Kính chào anh chị em!

        NHÀ đã có hơn 5 ngàn thành viên, trong đó đa số là các anh chị em CSV ĐHTS Nha Trang. Phần còn lại các anh chị em khác đều là CSV, công viên chức, nhân viên, công nhân, nhân dân...

        Vừa qua có một CSV là giáo viên tiểu học muốn NHÀ phải thêm nhiều mục, nhiều đề tài sôi động... để thu hút thêm nhiều nhiều thành viên vào NHÀ. Mời anh chị em NHÀ góp ý để anh Ad xem xét, nghiên cứu và có phần thực hiện.

        Đặc biệt đại diện là phó thường dân trong CLB Yêu Khoa học này, em xin mở mục "Nghiên cứu khoa học giáo dục" để hỗ trợ thêm cho anh chị em bên ngành giáo dục có tài liệu, hướng đi trong nghiên cứu khoa học của họ. Kính mong các anh chị em NHÀ và khách viếng thăm tham gia nhiệt tình, sôi động, em xin trân trọng cảm ơn!!!

Phó thường dân CLB Yêu Khoa học trân trọng kính báo!

 

Tags: Nghiên, cứu, dục, giáo, học, khoa

Views: 120

Replies to This Discussion

Nghiên cứu xây dựng mô hình vườn trường về giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học
Mã số: B2008-37-37MT
THÔNG TIN CHUNG Chủ nhiệm đề tài: TS Trần Thị Hiền Lương Đơn vị công tác: Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Phổ thông, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. Thư  điện tử: ; Điện thoại: 04 39427747 Thư ký đề tài: PGS.TS. Lê Vân Anh; TS. Lương Việt Thái; Bà Nguyễn Thu Huyền; Bà Nguyễn Lê Hằng; KTS. Trần Thị Anh Nguyên. Thời gian thực hiện: Từ 08/2008 đến 12/2009.
Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng mô hình vườn trường về giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) cho trường tiểu học nhằm:
Tạo dựng một không gian với cảnh quan thiên nhiên phù hợp với những nội dung dạy học về môi trường và bảo vệ môi trường ở một số môn học, giúp giáo viên tổ chức hiệu quả hoạt động dạy học, tạo điều kiện cho học sinh củng cố, nâng cao kiến thức được học về môi trường, có cơ hội thực hành, trải nghiệm các hoạt động tìm hiểu về môi trường và bảo vệ môi trường tại trường, lớp; Hình thành và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trong trường.
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu một số tài liệu về giáo dục bảo vệ môi trường của Việt Nam và một số nước khác; - Nghiên cứu các mô hình vườn trường của một số trường tiểu học ở Việt Nam và nước ngoài; - Nghiên cứu các nội dung tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học ở tiểu học; - Nghiên cứu nguyên tắc xây dựng vườn trường trong trường tiểu học; - Nghiên cứu và thiết kế mô hình vườn trường về giáo dục bảo vệ môi trường cho trường tiểu học Thành Công A.
Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lí luận;  Phương pháp nghiên cứu thực tiễn; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp thực nghiệm.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1/ Về lí luận
Hoạt động GDBVMT ở một số nước trên thế giới:
Trên thế giới, nhiều nước coi giáo dục là công cụ để thay đổi xã hội và giáo dục môi trường đã sử dụng các nguyên lí chung là: 1/ Tiếp cận với thực tế; 2/ Tăng cường tri thức và hiểu biết; 3/ Kiểm nghiệm cách ứng xử và các giá trị; 4/ Hình thành trách nhiệm; 5/ Cung cấp các kĩ năng và kinh nghiệm; 6/ Khuyến khích các hoạt động.
Các nước châu Á đã đưa 15 vấn đề tập trung vào bốn lĩnh vực GDBVMT, đó là: 1/ Chương trình cho giáo dục môi trường; 2/ Ðào tạo nhân lực cho giáo dục môi trường; 3/ Giáo dục môi trường không chính quy; 4/ Các tài liệu cho giáo dục môi trường.
Hoạt động GDBVMT ở Việt Nam: Việc nghiên cứu về giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông đã được tiến hành trong những năm gần đây. Thực hiện Quyết định số 1363 ngày 17/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Ðề án “Ðưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” và Chỉ thị số 02/2005/CT-BGD&ÐT ngày 31/02/2005 của Bộ Giáo dục và Ðào tạo về tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường, ngành giáo dục đã có một số hoạt động nghiên cứu về giáo dục bảo vệ môi trường ở các bậc học như xây dựng chương trình, giáo trình, bài giảng về GDBVMT, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, giảng viên về GDBVMT, tổ chức chỉ đạo việc đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và quản lí về lĩnh vực môi trường để đảm bảo nguồn nhân lực cho việc nghiên cứu, quản lí, công nghệ bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đất nước, tăng cường cơ sở vật chất cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ bảo vệ môi trường trong trường học...
Ðối với giáo dục tiểu học, chúng ta đã tiến hành các công việc như: nghiên cứu tích hợp giáo dục môi trường vào chương trình các môn học ở tiểu học, xây dựng tài liệu hướng dẫn tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học (chủ yếu mới đưa ra một số ví dụ về cách thức tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào một số môn học ở tiểu học thông qua việc thiết kế kế hoạch bài học của giáo viên), nghiên cứu và tổ chức các hoạt động ngoại khoá về giáo dục bảo vệ môi trường, tuyên truyền, cổ động về ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học...
2/ Về thực tiễn
Nguyên tắc xây dựng vườn trường theo hướng bảo vệ môi trường: 1/ Ðảm bảo sử dụng các cảnh quan phù hợp với khu vực; 2/ Sử dụng đất tự nhiên; 3/ Bảo tồn và thu hút các sinh vật tự nhiên, hoang dã; 4/ Hạn chế đào bới, san lấp; 5/ Tiết kiệm nước, tiết kiệm năng lượng; 6/ Bảo vệ môi trường không khí, môi trường nước.
Xây dựng một mô hình vườn trường  về giáo dục bảo vệ môi trường cho trường tiểu học tại Trường Tiểu học Thành Công A - quận Ba Ðình - Hà Nội đảm bảo yêu cầu thiết kế: 1/ Không phá vỡ môi trường hiện tại của trường tiểu học; 2/ Không giảm diện tích các khu vực vui chơi của học sinh; 3/ Bố trí hợp lí các góc thiên nhiên, tạo được cảnh quan môi trường gần gũi với tự nhiên; 4/ Ðảm bảo sự an toàn, vệ sinh; 5/ Có tính thẩm mĩ.
Đánh giá thực trạng vườn trường tiểu học Thành Công A Quận Ba Đình - Hà Nội: Ngoài các cây bóng mát và cây cảnh, chậu cảnh trang trí lối vào cổng trường, sân trường, lối đi,..., nhà trường còn dành một khu đất tương đối rộng để làm vườn trường. Ðó là một khu đất có chiều dài 20 mét, chiều rộng 6 mét, tạo khoảng cách giữa lớp học với tường bao giáp với khu chung cư của người dân. Nhà trường đã trồng một số cây hoa sữa trong vườn trường với mục đích tạo bóng mát cho các lớp học. Tuy nhiên, vườn trường mới chỉ được khai thác ở góc độ tạo màu xanh và  bóng mát cho khuôn viên nhà trường nên chưa góp phần vào việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh. Cây cối trong vườn rất thưa thớt và ít được chăm sóc, chủ yếu là cây hoa sữa đã cao khoảng 4 - 5 mét. Tường rào ẩm mốc, tường hoa quanh vườn đã cũ, nhiều đoạn sứt vỡ và không được khai thác sử dụng. Với khung cảnh trên đây, vườn trường chủ yếu có chức năng tạo bóng mát cho dạy lớp học tiếp giáp với vườn trường chỗ chạy nhảy cho học sinh trong giờ ra chơi.
Thiết kế cảnh quan vườn trường: Với mục đích tạo một môi trường vui chơi sạch sẽ và an toàn, đồng thời thiết lập cơ sở hạ tầng ban đầu cho các em học sinh được thực hành học tập trồng và chăm sóc cây… Chúng tôi đã đặt vấn đề thiết kế và thi công tốt phần hạ tầng cơ sở bao gồm đường dạo, các dàn hoa bằng sắt để trồng cây leo, che bóng mát và tạo nên các không gian nên thơ… ; xây dựng các góc thiên nhiên như góc thực vật (với một số loại cây ăn quả, cây cho bóng mát, cây cảnh, cây thuốc nam,...), cảnh núi non, ruộng bậc thang, hồ nước nhỏ để thả cá,... Bao gồm các góc vườn như sau :1) Các vườn hoa, cây cảnh; 2/ Vườn cây ăn quả ; 3/ Giàn cây: 2 giàn; 4/ Vườn treo (có ghế bên dưới); 5/ Vườn thuốc nam; 6/ Vườn trồng thực nghiệm; 7/ Vườn ươm ; 8/ Mô hình địa lí ; 9/ Bể cá.
Quá trình thi công gồm 2 giai đoạn : 1/ Giai đoạn thi công ; 2/ Giai đoạn trồng và chăm sóc cây. Hướng dẫn tổ chức hoạt động GDBVMT tại vườn, gồm có 2 hoạt động: 1/ Tích hợp GDBVMT vào các môn học; 2/ Tổ chức các hoạt động ngoại khóa.
Tích hợp GDBVMT vào các môn học:
Môn Tự nhiên - Xã hội: 1/ Nhận biết một số cây rau, cây thuốc nam, cây ăn quả, cây ngắn ngày, cây lâu năm, một số loài hoa, cây dây leo... và lợi ích của nó; 2/ Quan sát và phân biệt các bộ phận chính của cây : thân, rễ, lá, hoa..; 3/ Mô hình ao nuôi cá (Phân biệt một số loại cá nước ngọt, cá cảnh..; Nhận biết các bộ phận chính của một số con vật : đầu, mình, cơ quan di chuyển); 4/ Quan sát và chỉ ra được một số cây và con vật sống trên cạn, dưới nước; 5/ Ý thức chăm sóc, giữ gìn cây xanh, cây ăn quả... bảo vệ môi trường.
Môn Khoa học: 1/ Chủ đề nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể (Rau xanh, củ, quả, cà rốt, gấc... chứa nhiều chất khoáng và vitamin, chất xơ...; Vai trò của chất khoáng, vitamin, chất xơ đối với cơ thể; Tiêu chuẩn của thực phẩm sạch và an toàn; Ý thức giữ gìn, bảo quản thực phẩm vì sức khỏe và môi trường); 2/ Chủ đề Thực vật và động vật (Quá trình trao đổi chất giữa thực vật và động vật với môi trường; Nhận biết sinh sản của thực vật và động vật; Tác động của con người với môi trường, nhận biết môi trường có ảnh hưởng lớn đến đời sống con người; Ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường trong sạch).
Môn Lịch sử và Địa lí: Đặc điểm địa hình, địa lí: đồng bằng, đồi núi,... GDBVMT được tiến hành thông qua việc cho học sinh làm các bài tập theo chủ đề môi trường, thông qua đó hình thành ý thức giữ gìn và BVMT.
Môn Tiếng Việt: 1/ Giúp học sinh nhận thức môi trường tự nhiên xung quanh; 2/ Quan sát, nhận biết, cảm nhận về một số loài cây, con vật gắn bó với đời sống con người. Trên cơ sở đó các em có kiến thức thực tế để thực hiện yêu cầu viết đoạn văn, bài văn tả cảnh, tả ngôi trường, vườn trường, tả cây cối, con vật,… theo yêu cầu của chương trình.
Môn Đạo đức: Giáo dục học sinh ý thức và hình thành các hành vi: 1/ Bảo vệ chăm sóc cây hoa và các loài vật có ích; 2/ Tham gia hoạt động bảo vệ môi trường ở địa phương
Môn Mĩ thuật: 1/ Hướng dẫn học sinh quan sát và vẽ những bức tranh thiên nhiên tại vườn trường, hình thành cho các em những xúc động chân thành trước vẻ đẹp của tự nhiên và niềm xót xa khi những thiên tạo ấy bị con người tàn phá; 2/ Qua những bức tranh thiên nhiên do các em sáng tác, có thể giáo dục các em về mối quan hệ đặc biệt giữa môi trường thiên nhiên và con người, vấn đề ô nhiễm môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường.
Tóm lại, việc giáo dục bảo vệ môi trường nên được tích hợp trong các môn học, giúp học sinh: 1/ Có kiến thức về môi trường; 2/ Hiểu tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường; 3/ Có ý thức về bảo vệ môi trường; 4/ Được thực hành bảo vệ môi trường.
Các hoạt động ngoại khóa có thể tổ chức ở vườn trường, đó là:
Tìm hiểu vườn trường: 1/ Tổ chức cho HS quan sát  vườn trường  để kể được tên các loại cây, hoa, quả trong vườn, các động vật có trong hồ nước, các mô hình địa lí (núi, ruộng bậc thang,...); 2/ Thi tìm hiểu về ích lợi của các loài cây đối với con người và môi trường; 3/ Cách làm: chia các em thành các nhóm; mỗi nhóm tìm hiểu về một loại cây, một loại động vật, sau đó tổ chức các cuộc thi về kiến thức đã tìm được như: vẽ tranh, kể chuyện, ghép hình, nặn mô hình....
Tìm hiểu tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường: 1/ Quan sát tranh về môi trường (các bức tranh có thể mô tả sự tàn phá của con người về môi trường ; chặt cây, phá rừng, săn bắn; rác thải... và hậu quả của những hoạt động trên) ; 2/ Tổ chức trò chơi đóng kịch tại vườn trường: Một nhóm trẻ đóng vai cây, cỏ, con vật, ao hồ... một nhóm đóng vai con người, các bé sẽ tự diễn tả cảm xúc của mình khi bị tác động
Thực hành bảo vệ môi trường: Tổ chức các hoạt động, các phong trào thi đua trong toàn trường: 1/ Nhặt rác trong sân trường, lớp học; 2/ Tái sử dụng các đồ vật để sử dụng người vườn trường; 3/ Cuộc thi khéo tay hay làm từ các vật đã bỏ đi để trang trí cho vườn trường.
Tập trồng cây: 1/ Tổ chức cho HS thực hành gieo hạt, trồng cây, quan sát  quá trình sinh trưởng của cây theo từng giai đoạn và ghi chép lại những gì  quan sát được; 2/ Tổ chức thuyết trình về cách gieo trồng và quá trình phát triển của cây.
Chăm sóc cây cối, con vật: 1/ Phân công từng lớp / từng nhóm học sinh phụ trách cách luống cây / con vật trong vườn trường; 2/ Học sinh ghi chép lịch trực tuần chăm sóc cây cối, con vật ; nêu nhận xét về quá trình phát triển của cây / con vật.
Sáng tác về chủ đề BVMT: 1/ Vẽ tranh về môi trường; 2/ Viết văn, truyện, làm thơ,.... Thành lập câu lạc bộ những học sinh yêu thiên nhiên.
3/ Một số khuyến nghị
Việc nhân rộng mô hình vườn trường theo hướng bảo vệ môi trường là điều cần thiết và rất nên được các cấp quản lí giáo dục và môi trường quan tâm, tạo điều kiện phát triển.
Nguồn: Viện nghiên cứu giáo dục Việt Nam

 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC                          

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập   - Tự do - Hạnh phúc

CHUẨN ĐẦU RA NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC

(Ban hành kèm theo Quyết định số 760/QĐ-ĐHTB-ĐT ngày 10/12/2010 của Hiệu trưởng Trường Đại học Tây Bắc)

1. Tên ngành đào tạo: Giáo dục Tiểu học (Primary Teacher Education)

2. Trình độ đào tạo: Đại học

3. Yêu cầu về kiến thức

3.1. Kiến thức tổng quát

- Được trang bị kiến thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng như các kiến thức cơ bản về pháp luật hiện hành để có thể nhận thức và quán triệt chủ trương, chính sách của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.

- Có kiến thức cơ bản trong lĩnh vực Khoa học xã hội và Khoa học tự nhiên để tiếp thu kiến thức giáo dục chuyên nghiệp và khả năng học tập nâng cao trình độ.

3.2. Kiến thức chuyên môn

- Được trang bị đầy đủ các kiến thức cơ bản và chuyên sâu thuộc ngành học theo khung chương trình quy định của bộ có bổ sung cập nhật những đổi mới và gắn với thực tế địa phương.

- Được trang bị đầy đủ kiến thức lý luận về các môn học, kiến thức nghiên cứu khoa học để có thể giảng dạy tốt và tham gia làm công tác nghiên cứu khoa học.

- Có kiến thức giáo dục đại cương đủ rộng, nắm vững các kiến thức chuyên ngành, bảo đảm dạy tốt các môn học và các hoạt động giáo dục trong chương trình tất cả các lớp của bậc tiểu học, được nâng cao về 3 môn Tiếng Việt, Toán, Tự nhiên-xã hội.

3.3. Năng lực nghề nghiệp

-  Có kiến thức phổ thông về môi trường, dân số, an ninh quốc phòng, an toàn giao thông, về quyền trẻ em, y tế học đường để có thể thực hiện giáo dục tích hợp trong giảng dạy các môn học.

- Có hiểu biết về tình hình kinh tế văn hoá xã hội, đời sống, phong tục tập quán của địa phương để có thể hoà nhập và góp phần phát triển cộng đồng, làm tốt công tác giáo dục học sinh tiểu học.

4. Yêu cầu về kỹ năng

4.1 Kĩ năng cứng

- Kĩ năng phân tích mục tiêu, tìm hiểu chương trình, SGK và các tài liệu dạy các môn học ở tiểu học.

- Kĩ năng tìm hiểu trình độ và đặc điểm ngôn ngữ của HS tiểu học.

- Kĩ năng lập kế hoạch dạy học, thiết kế bài dạy.

- Kĩ năng tổ chức các hoạt động dạy học các môn học .

- Kĩ năng kiểm tra, đánh giá HS.

- Kĩ năng tổ chức các hoạt động ngoại khoá, bồi dưỡng HS giỏi, giúp đỡ HS kém; công tác chủ nhiệm, công tác Đội,…

- Kĩ năng phân tích đánh giá thực tế dạy học các môn học ở tiểu học.

- Khi có nhu cầu, có thể dạy lớp ghép, dạy tiếng Việt cho người học dân tộc, dạy trẻ khuyết tật theo hướng hoà nhập.

- Biết làm công tác chủ nhiệm lớp, tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động Sao nhi đồng, Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.

- Có kỹ năng quản lý lớp học, xây dựng lớp thành tập thể đoàn kết, tự quản; có khả năng giáo dục người học cá biệt.

- Có kĩ năng giao tiếp sư phạm.

4.2 Kĩ năng mềm

- Có kĩ năng ứng xử, kĩ năng giao tiếp xã hội, kĩ năng tham gia, điều hành các hoạt động chính trị - xã hội và khả năng thích ứng với môi trường sống, làm việc, đặc biệt là môi trường nhà trường.

- Có tinh thần cộng tác trong công việc, có kĩ năng làm việc theo nhóm, có khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học phục vụ hoạt động chuyên môn của mình.

5. Yêu cầu về thái độ

- Có phẩm chất đạo đức, ý thức nghề nghiệp; có trách nhiệm công dân, tích cực, trung thực và tự giác. Có ý thức tu dưỡng và rèn luyện theo các tiêu chí cơ bản của ngành nghề.

- Bồi dưỡng cho sinh viên tình cảm nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức của người giáo viên dạy tiểu học

- Có lối sống lành mạnh, trung thực, giản dị, nêu gương tốt cho học sinh.

- Có khả năng cập nhật kiến thức, sáng tạo trong công việc.

6. Vị trí và khả năng làm việc sau khi tốt nghiệp

- Giáo viên tại các trường tiểu học trong cả nước

- Chuyên viên, cán bộ quản lý giáo dục bậc tiểu học tại các phòng/sở giáo dục-đào tạo hoặc một số lĩnh vực văn hoá khác.

7. Khả năng học tập nâng cao trình độ sau khi ra trường

- Sau khi tốt nghiệp sinh viên có khả năng học tập cao học thuộc những ngành Giáo dục Tiểu học và những ngành học khác mà quy chế đào tạo cao học cho phép;

- Sinh viên cũng có thể tham gia học tập trình độ đại học (bằng 2) thuộc khối ngành khoa học xã hội nhân văn theo quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hiện hành.

8. Các chương trình, tài liệu, chuẩn quốc tế tham khảo

- Chương trình của Bộ Giáo dục và đào tạo.

- Tài liệu tham khảo của Trường Đại học sư phạm Hà Nội.

TRƯỞNG KHOA

Đã ký

 

 

 

 

TS. Trần Thị Thanh Hồng

HIỆU TRƯỞNG

Đã ký 

 

 

 

 

PGS. TS Đặng Quang Việt

Nguồn: utb.edu.vn

Nghiên cứu biên soạn sách "Môi trường với cuộc sống của chúng ta" dành cho học sinh lớp 4
Mã số: B2008-37-36MT
THÔNG TIN CHUNG Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Nguyễn Tuyết Nga Đơn vị công tác: Trung tâm nghiên cứu Giáo dục Phổ thông, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. Thư  điện tử: Điện thoại: 04 39427747 Thư ký đề tài: ThS. Phan Thanh Hà; Thành viên: PGS.TS. Nguyễn Thị Hạnh; PGS.TS. Nguyễn Thị Thấn; ThS. Bạch Ngọc Diệp. Thời gian thực hiện: Từ 08/2008 đến 08/2009.
Mục tiêu nghiên cứu
Hỗ trợ học sinh lớp 4 đạt mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường tiểu học.
Nội dung nghiên cứu
- Xây dựng các nguyên tắc biên soạn tài liệu; - Rà soát chương trình giáo dục, sách giáo khoa, chương trình tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) của một số môn ở tiểu học để lựa chọn nội dung, mức độ tích hợp GDBVMT của lớp 4; - Xây dựng cấu trúc tài liệu; - Triển khai biên soạn tài liệu gồm 5 chương.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận và thực tiễn; Phương pháp hồi cứu tư liệu; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp điều tra khảo sát.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1/ Về lí luận
Một số khái niệm cơ bản:
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật;
Khoa học môi trường ra đời có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề môi trường nảy sinh trong quá tình phát triển kinh tế xã hội của con người. Trong đó, chủ yếu là tìm ra các giải pháp để giải quyết và điều hòa tốt nhất các mâu thuẫn nảy sinh giữa môi trường và sự phát triển kinh tế xã hôi. Khoa học môi trường (KHMT) là một khoa học mang tính liên ngành và đa ngành;
Bảo vệ môi trường là khái niệm rộng hơn khái niệm bảo vệ thiên nhiên bởi vì trong khái niệm môi trường có cả môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo. Do đó, bảo vệ môi trường ngày nay mang nội dung mới, mở rộng hơn, phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn thế giới (như: Sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên, cải tạo phục hồi các nguồn tài nguyên đã bị cạn kiệt, chống ô nhiễm và suy thoái môi trường, bảo vệ tính đa dang sinh học và vốn gen di truyền quý hiếm, nghiên cứu cách phòng chống và dự báo các sự cố môi trường);
Giáo dục môi trường là một quá trình hình thành những nhận thức, hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao quanh con người. Hơn nữa, GDMT cũng đòi hỏi hình thành ở người học khả năng quyết định và những hành động có liên quan tới chất lượng môi trường.
Hiện trạng môi trường Việt Nam được đề cập đến với những nội dung cụ thể về: 1/ Môi trường đất; 2/ Môi trường rừng; 3/ Môi trường nước; 4/ Môi trường không khí; 5/ Suy giảm đa dạng sinh học; 6/ Ô nhiễm môi trường do việc xử lí chất thải chưa đảm bảo.
Giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học và nhu cầu tài liệu tham khảo về GDBVMT của học sinh tiểu học: Tìm hiểu thực tế qua cuộc khảo sát, đánh giá kết quả đổi  mới chương trình giáo dục phổ thông và đặc biệt là các đợt tập huấn về GDBVMT, cho thấy giáo viên và học sinh có nhu cầu rất lớn đối với loại tài liệu tham khảo về GDBVMT, nhất là đối với học sinh.
Đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của học sinh tiểu học có thể chi phối đến quá trình học tập, đọc sách về GDBVMT bao gồm: 1/ Tri giác; 2/ Khả năng chú ý; 3/ Trí nhớ; 4/ Tưởng tượng; 5/ Tư duy của học sinh tiểu học.
Nguyên tắc xây dựng tài liệu tham khảo: 1/ Đảm bảo góp phần vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục (có một số kiến thức cơ bản, thiết thực về môi trường; Từng bước phát triển những tình cảm và thái độ; Bước đầu hình thành và rèn luyện các kĩ năng, hành vi); 2/ Gắn nội dung GDBVMT với nội dung chương trình giáo dục các môn học/các hoạt động giáo dục; 3/ Đảm bảo phương pháp trình bày phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí và sự phát triển của đối tượng học sinh lớp 4; 4/ Chú trọng các vấn đề thực hành; 5/ Chú trọng những tình huống GDBVMT tác động đến đạo đức môi trường của học sinh.
2/ Về thực tiễn
Dựa trên cơ sở những nội dung GDBVMT được tích hợp vào các chương , bài trong chương trình và SGK lớp 4 để xây dựng nội dung của tài liệu tham khảo:

STT

Môn học

Chủ đề/Chương

Bài

1

Khoa học

Con người và sức khỏe

Bài 1. Con người cần gì để sống?

Bài 2. Trao đổi chất ở người

Bải 3. Trao đổi chất ở người (tiếp   theo)

Vật chất và năng lượng

Bài 24. Vật chất và năng lượng

Bài 25. Nước bị ô nhiễm

Bài 26. Nguyên nhân làm nước bị ô   nhiểm

Bài 27. Một số cách làm sạch nước

Bài 28. Bảo vệ nguồn nước

Bài 29. Tiết kiệm nước

Bài 32. Không khí gồm những thành   phần nào?

Bài 39. Không khí bị ô nhiễm

Bài 40. Bảo vệ bầu không khí trong   sạch

Bài 44. Âm thanh trong cuộc sống

Thực vật và động vật

Bài 57. Thực vật cần gì để sống

Bài 61. Trao đổi chất ở thực vật

Bài 63. Động vật cần gì để sống

Bài 64. Trao đổi chất ở động vật

Bài 66. Chuỗi thức ăn trong tự   nhiên

Bài 67. Thực hành

2

Lịch sử và Địa lí

Thiên nhiên và hoạt động của con   người ở miền núi và trung du

Bài 2, 3, 4, 7, 8, 9

Thiên nhiên và hoạt động sản xuất   của con người ở miền đồng bằng: Đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ

Bài 11, 12, 13, 15, 17, 18, 19, 20,   21

Đồng bằng duyên hải miền Trung

Bài 24, 25, 26

Biển Đông, các đảo, quần đảo

Bài 29, 30

3

Tiếng Việt

Bài. Nhớ Việt Bắc

Bài. Âm thanh thành phố

Bài. Ở vương quốc tương lai

Bài. Con chuồn chuồn nước

Bài. Con chim chiền chiện

4

Đạo đức

Bài. Bảo vệ môi trường

5

Kĩ thuật

Chương II. Kĩ thuật trồng cây, rau,   hoa

Bài 9. Lợi ích của việc trồng cây,   rau, hoa

Bài 13. Chăm sóc cây

6

Âm nhạc

Bài. Chim sáo

Bài. Cò lá

Bài. Chú voi con ở bản Đôn

7

Mĩ thuật

Chương. Động vật

Vẽ, nặn các con vật, người

Bài 8, 15, 23

Chương. Cảnh quan

Vẽ, xem tranh

Bài 3, 5, 8, 9, 12, 18, 19, 25, 26,   29, 33, 35

8

Các hoạt động giáo dục

Em yêu quê hương

Ô nhiêm môi trường

Em yêu thiên nhiên

Tiết kiệm trong tiêu dùng

Nội dung của cuốn sách được chia làm 5 chương và bao gồm 16 bài và một số tranh ảnh, bài viết của học sinh tiểu học về môi trường:
Chương 1: Nước (Bài 1. Nước có ở đâu?; Bài 2. Vai trò của nước; Bài 3. Nguy cơ đối với nguồn nước; Bài 4. Chúng ta cần làm gì để bảo vệ nguồn nước?);
Chương 2: Không khí (Bài 1. Không khí có ở đâu? Không khí gồm những thành phần nào?; Bài 2. Không khí có vai trò gì?; Bài 3. Vì sao không khí ô nhiễm; Bài 4. Chúng ta cần làm gì để bảo vệ bầu không khí trong sạch?);
Chương 3: Đất (Bài 1. Đất và sự phân bố đất; Bài 2. Đất với cuộc sống của chúng ta; Bài 3. Nguy cơ đối với đất; Bài 4. Chúng ta cần làm gì để bảo vệ và cải tạo đất);
Chương 4: Rừng (Bài 1. Rừng và sự phân bố rừng; Bài 2. Cây gì, con gì sống trong rừng Việt Nam; Bài 3. Rừng cần cho con người như thế nào?; Bài 4. Ngay bây giờ cần làm gì với rừng?);
Chương 5: Môi trường qua con mắt trẻ thơ (Giới thiệu một số tranh vẽ và bài viết của học sinh về môi trường).
Sau khi hoàn thiện bản thảo sách tranh, đề tài đã tổ chức lấy ý kiến của học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý tại 3 trường tiểu học thuộc địa bàn 3 tỉnh: Hà Nội, Hà Tĩnh, và thành phố Hồ Chí Minh. Các ý kiến đóng góp cụ thể như sau: 1/ Cuốn sách đã được hầu hết các em học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý đón nhận một cách nhiệt tình; 2/ Cuốn sách đã được đánh giá cao về chất lượng nội dung cũng như cách trình bày; 3/ Một số ý kiến đóng góp về kênh hình được giải quyết nếu in màu; 4/ Ý kiến về tách cuốn sách làm các phần là một gợi ý tốt; 5/ Cuốn sách đang được mong đợi sớm được đưa vào lưu hành rộng rãi trong nhà trường.
3/ Một số khuyến nghị
Đối với Viện Khoa học giáo dục Việt Nam: Song song với việc tổ chức biên soạn bộ sách tham khảo “Môi trường với cuộc sống của chúng ta”, nên đề xuất với Bộ để tiếp tục xây dựng tư liệu tham khảo về môi trường dưới dạng “động”, ví dụ như: phim khoa học, băng hình,...
Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cho in, phát hành bộ sách tham khảo “Môi trường với cuộc sống của chúng ta” phục vụ cho việc triển khai nhiệm vụ đưa GDBVMT vào trường phổ thông, đây là tài liệu phong phú gắn với chương trình, sách giáo khoa từng lớp học, cấp học, giúp học sinh hiểu biết thêm về môi trường, tác động của môi trường đối với cuộc sống của con người, đồng thời cũng thấy được sự hủy hoại môi trường do chính những hành động thiếu ý thức của con người gây ra, từ đó có nhận thức đúng đắn về MT, BVMT, có hành vi ứng xử thân thiện với MT, có tâm thế sẵn sàng tham gia bảo vệ môi trường, góp phần phát triển đất nước một cách bền vững.
Đối với các trường tiểu học: Ban giám hiệu nhà trường cần quan tâm, khuyến khích, tạo điều kiện (về thời gian, đồ dùng, tài liệu) để giáo viên, học sinh luôn có ý thức và thường quyên dạy và học nội dung GDBVMT được tích hợp vào những môn những bài phù hợp sao cho có hiệu quả.
TỪ KHÓA: 1/ Bảo vệ môi trường; 2/ Giáo dục bảo vệ môi trường; 3/ Tài liệu tham khảo lớp 4
Nguồn: Viện nghiên cứu giáo dục Việt Nam
Nghiên cứu thiết kế tranh động theo chủ đề nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi phục vụ đổi mới chương trình giáo dục mầm non
Mã số: V2008-12
THÔNG TIN CHUNG Chủ nhiệm đề tài:  ThS. Trần Yến Mai                                 Đơn vị công tác: Viện Khoa học giáo dục Việt Nam Thư  điện tử: maiyen_vcl@yahoo.com; Điện thoại: 0438642687; Thư ký đề tài:  ThS. Phan Đông Phương; Thành viên: Thời gian thực hiện: Từ 5/2008  đến 5/2009
Mục tiêu nghiên cứu:
Cơ sở lý luận của việc thiết kế tranh động theo chủ đề nhằm phát triển ngon ngữ (PTNN) cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
Nội dung nghiên cứu
- Làm rõ một số khái niệm khoa học: Tranh và tranh động theo chủ đề;  PTNN của trẻ MN; - Đặc điểm tâm lý trẻ ảnh hưởng đến việc PTNN; - Chương trình MG 5-6 tuổi mới và những yêu cầu về PTNN; - Các con đường tiếp cận với tranh động để hỗ trợ PTNN; - Định hướng thiết kế bộ tranh: theo nguyên tắc thiết kế, quy trình thiết kế.
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu lí luận; Nghiên cứu thực tiễn: phương pháp chuyên gia.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1/ Về lí luận
Đề tài đã làm rõ một số khái niệm khoa học: Tranh và tranh động theo chủ đề;  PTNN của trẻ MN; Đặc điểm tâm lý trẻ ảnh hưởng đến việc PTNN;  Chương trình mẫu giáo 5-6 tuổi mới và những yêu cầu về PTNN;
Phân tích, hệ thống hóa và khái quát hóa những vấn đề nghiên cứu:  lí giải các cơ sở khoa học cho việc thiết kế tranh động nhằm PTNN cho trẻ MG 5 -6 tuổi trong trường mầm non. Nghiên cứu các hướng  tiếp cận với tranh động để hỗ trợ PTNN thông qua xem tranh, đàm thoại, lời kể của giáo viên, trẻ kể lại truyện qua tranh.
2/ Về thực tiễn
Đề tài nghiên cứu về tình hình trang bị và sử dụng tranh động ở một số trường mầm non Hà nội; tiến hành khảo sát, điều tra ở 06 trường MN thuộc các quận Hoàn kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Ba Đình (MN bán công 20/10, Việt Bun, Mầm non A Ba Đình, Trường MN số 10, Hoa Mai, Tuổi hoa).
Mục đích điều tra: Tìm hiểu tình hình trang bị và sử dụng tranh động lớp MG 5 tuổi ở một số trường MN trong thành phố Hà Nội.
Nội dung điều tra: Nhận thức của GV về mục đích yêu cầu của việc sử dụng tranh động; Đánh giá của GV về việc sử dụng tranh động; Nguyên  nhân, những đề xuất để nâng cao hiệu quả sử dụng tranh động nhằm PTNN cho trẻ.
Điều tra bằng phiếu hỏi 30 giáo viên mầm non (GVMN) của 6 trường MN thực hiện chương trình đổi mới trên; Trao đổi, đàm thoại; Quan sát khi thăm lớp, dự giờ; Xử lý các số liệu điều tra bằng phương pháp thống kê.
Qua kết quả nghiên cứu  thực tế về trang bị và sử dụng tranh  động để PTNN trẻ 5-6 tuổi ở trường MN đề tài đề xuất các nguyên tắc, quy trình thiết kế tranh động phù hợp với chương trình GDMN mới:
Thiết kế tranh động (ví dụ minh họa): 1/ Tên bộ tranh và nội dung câu truyện; 2/ Định hướng thiết kế bộ tranh; 3/ Giá trị ứng dụng của bộ tranh.
3/ Một số khuyến nghị
Việc xác định cơ sở khoa học, nhất là đề xuất các nguyên tắc, quy trình thiết kế tranh động đã giúp cho kết quả đánh giá chính xác hơn góp phần nâng cao chất lượng TBDH và hiệu quả sử dụng TBDH nói chung và tranh động nói riêng ngày một tốt hơn góp phần phát triển chất lượng bậc học mầm non:
- Khẳng định vai trò vị trí quan trọng của ĐDĐC  trong việc tổ  chức các hoạt động CSGD cho trẻ MN;
- Thực trạng sử dụng ĐDĐC của GV các trường MG tại thành phố HN còn nhiều bất cập: Số lượng còn thiếu so với chương trình, so với kế hoạch đặc biệt là các phương tiện hiện đại VD: đầu đĩa, phim đèn chiếu, máy tính,...; Cơ cấu, chủng loại các ĐDĐC không đồng bộ; Kế hoạch đào tạo, kế hoạch về ĐDĐC chưa gắn bó với nhau; Nhận thức về tầm quan trọng và tác dụng của các ĐDĐC đối với hình  thức tổ chức và PPGDMN của các cấp quản lí chưa đồng đều;
- Để nâng cao HQSD tranh động ở các trường MG trong thành phố HN, cần tập trung ở các biện pháp cơ bản như đã trình bày trong đề tài. Tuy nhiên trong điều kiện hiện tại cần đẩy mạnh việc đổi mới công tác quản lí, tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cũng như kĩ năng sử dụng ĐDĐC cho GV, giúp GV biết sử dụng ĐDĐC để sáng tạo ra nhiều hoạt động CSGD trẻ 5-6 tuổi; 4/ Muốn tăng cường được hiệu quả sử dụng ĐDĐC vào các hoạt động CSGD ở trường MN cần phải có những điều kiện tối thiểu về CSVC, về trình độ quản lí, về kĩ năng nghiệp vụ SP của GV. Và trên hết là lòng yêu nghề, yêu trẻ, biết thực hiện và phát huy các phương pháp dạy học tích cực hướng tới mục tiêu GD và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ 5–6 tuổi ở trường MN.
Đối với các cấp quản lý giáo dục:
- Hiện nay, số lượng và mức hiện đại của các TB ĐDĐC được trang bị cho các trường ngày càng tăng, đề nghị Bộ GD & ĐT cho đào tạo mỗi trường một đội ngũ  phụ trách kỹ thuật, có chuyên môn sâu về kỹ thuật sử dụng, bảo quản, duy tu các TB ĐDĐC đặc biệt là các TB hiện đại. Tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả cao các ĐDĐC đã được trang bị. Đặc biệt Bộ GD & ĐT sớm triển khai “Đề án phát triển giáo dục MN” để chuẩn  hoá danh mục cũng như mẫu TBMN trên toàn quốc nhằm nâng cao  GDMN;
- Các cấp quản lí khác một mặt cần trang bị đồng bộ ĐDĐC, kịp thời đáp ứng cho các hoạt động GD, mặt khác phải thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng cho GV sử dụng có hiệu quả các ĐDĐC đã được trang bị, chủ yếu là nắm chắc kỹ thuật, kỹ năng sử dụng các loại hình đồ chơi, sử dụng đúng lúc, đúng  chỗ, đúng mức độ và cường độ trong các hoạt động.
Đối với giáo viên Các GVMN nói chung và GV trực tiếp  dạy lớp  5-6 tuổi nói riêng:
Cần tăng cường hơn nữa việc tham gia học hỏi, phát huy khả năng của bản thân để cải tiến những ĐDĐC đã có, thiết kế nhiều ĐDĐC mới cho các hoạt động CSGD trẻ 5 - 6 tuổi và tạo môi trường cho trẻ hoạt động một cách tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng CSGD trẻ.
Đối với các nhà nghiên cứu và sản xuất:
Các nhà sản xuất và nghiên cứu cần có kế hoạch thu thập, phân loại, đánh giá, nhân rộng và phát triển các loại ĐDĐC có tác dụng để khuyến khích đưa vào sử dụng  cho trẻ trong trường MN. Không đưa vào cung cấp những ĐDĐC kém chất lượng trong các trường MN, không phát huy tác dụng GD với lứa tuổi MN để chất lượng trong các trường MN ngày càng được nâng cao. Từ đó giúp nhà trường phát triển tốt nhất.
TỪ KHÓA: 1/ Giáo dục mầm non; 2/ Đồ dùng dạy học; ; 3/ Tranh động; 4/ Truyện tranh động; 5/ Phát triển ngôn ngữ
Nguồn: Viện nghiên cứu giáo dục Việt Nam
Học sinh nghiên cứu khoa học dễ hay khó?

Nghiên cứu khoa học thực sự là một hoạt động rất có hiệu quả trong việc làm chủ tri thức của nhân loại. Qua việc giải quyết một vấn đề khoa học thì chúng ta có thể hiểu sâu sắc về một kiến thức khoa học nào đó hoặc thông qua đó có thể giải quyết được một số vấn đề trong thực tiễn hay trong sản xuất.

Nắm bắt được các kiến thức phổ thông là một trong những nhiệm vụ của giáo dục phổ thông hiện nay. Bộ giáo dục và đào tạo liên tục chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tối đa khả năng làm chủ tri thức của học sinh. Ngoài ra, nghiên cứu khoa học cũng là một trong các cách giúp chúng ta hoàn thành được nhiệm vụ này.

Hiện nay, phong trào nghiên cứu khoa học trong sinh viên các trường đại học rất phát triển và trở thành hoạt động thường niên của hầu hết các trường đại học trong toàn quốc. Tuy nhiên, phong trào nghiên cứu khoa học trong học sinh thì vẫn còn là vấn đề hết sức xa lạ với các trường phổ thông. Tại sao lại thế? Nghiên cứu khoa học là dễ hay khó?

Năm học 2011-2012, Trường THCS&THPT Nguyễn Tất Thành đã tổchức thành công “Hội thảo học sinh nghiên cứu khoa học lần thứ nhất” với sự tham gia đông đảo và sôi nổi của hầu hết các lớp. Đây là một trong số rất ít trường trên địa bàn Thành phố Hà Nội làm được điều này. Tuy nhiên, chỉ có một bộ phận học sinh tham gia và rất nhiều đề tài quá tầm cũng như chưa khả thi.

Điều này cũng thật dễ hiểu vì đây là hoạt động mới mẻ ở trường phổ thông và những kiến thức về nghiên cứu khoa học trong học sinh là chưa có. Nhiều học sinh còn hiểu chưa đúng về hoạt động này. Nhiều em nghĩ rằng nghiên cứu khoa học là một cái gì đó mang tính vĩ mô cho một quốc gia hay là một kiến thức mới được phát hiện hoặc một sản phẩm hoàn toàn mới được nghĩ ra,…

Nghiên cứu khoa học (NCKH) là gì?

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường.

Thế nào là một đề tài nghiên cứu khoa học? Đề tài khác Dự án, Đề án, Chương trình?

Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người thực hiện. Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa học, chẳng hạn như: Chương trình, dự án, đề án. Sự khác biệt giữa các hình thức NCKH này như sau:

Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế.

Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả về kinh tế và xã hội. Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguồn lực.

Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn, hoặc gởi cho một cơ quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập một tổ chức; tài trợ cho một hoạt động xã hội,... Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hình thành những dự án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề án.

Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích xác định. Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao. Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trong chương trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phải đồng bộ.

Một đề tài ít nhất phải làm rõ được các vấn đề sau:

1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong trong phạm vi nhất định về mặt thời gian, không gian và lãnh vực nghiên cứu.

2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên cứu mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể đo lường hay định lượng. Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu. Mục đích trả lời câu hỏi "nhằm vào việc gì?", hoặc "để phục vụ cho điều gì?" và mang ý nghĩa thực tiển của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu.

Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được. Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả phải đạt được. Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”.

Như vậy, tất cả học sinh chúng ta đều có thể tham gia được vào hoạt động nghiên cứu khoa học. Hy vọng các năm tiếp theo, trường Nguyễn Tất Thành sẽ có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học của học sinh với chất lượng và mang tính khả thi cao hơn.

Nguồn: Trường THCS&THPT Nguyễn Tất Thành

RSS

Hiểu về trái timNếu bạn chưa biết cách sử dụng chức năng nào trên NHÀ, bấm vào đây...

Hỗ trợ trực tuyến (Mr Hải CB34) Bạn hãy login Yahoo! Messenger trước khi bấm vào đây để trao đổi
Visitors:Cựu SVTS

Latest Activity

Bùi Văn Hải replied to hồ thị Yến's discussion Bảo dưỡng nhà
12 hours ago
Bùi Văn Hải replied to Bùi Văn Hải's discussion Điều kiện để làm admin (chủ nhà)
12 hours ago
Nguyễn Anh Tuấn replied to Nguyen Thi Tuyet Muoi's discussion TUYEN DỤNG LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DOCIFISH
"Em tốt nghiệp ntts nhận kg chị ? "
yesterday
Hải Đường posted discussions
Sunday
Hải Đường left a comment for BÙI PHI YỂN
"happy Birthday Mr. Yển!"
Friday
Nguyễn Hồ commented on Đỗ Văn Búp's blog post VÁN CỜ CUỘC ĐỜI
"Cuộc sống chúng ta như 1 ván cờ thôi. Khi đi sai nước cờ mà không…"
Friday
Nguyễn Hồ replied to Hải Đường's discussion CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT!
"Thông tin hay"
Friday
Nguyễn Hồ replied to Nguyễn Hồ's discussion cung cấp giống cá chẽm ( cá vược)
"Up nào"
Friday
Nguyễn Hồ replied to Phan Thị Xuan Hương 35KT's discussion CẦN BÁN GẤP NHÀ Nhà hẻm 4m đường 2/4 gần bến xe phía bắc-Vĩnh Hải-Nha Trang
"Em thì muốn mua nhà ở vũng tàu"
Friday
Nguyễn Hồ replied to Nguyễn Thị Minh Tân's discussion TUYỂN KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN- Cty TNHH Thủy Sản Australis Việt Nam
"Lương như thế nào cho người có kinh nghiệm chị ơi?"
Friday
ngoc quyen is now a member of NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Friday
ngô kỳ long replied to TRẦN THỊ THANH TOÀN's discussion TUYỂN DỤNG NHÂN VIÊN HỌC CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
"còn tuyển ko em"
Friday
Vo Po Ri joined Bùi Văn Hải's group
Thumbnail

CLB Yêu Chất lượng (Do Better Club)

Nếu bạn nghĩ Chất Lượng chỉ dành cho QC, SX thì hãy nghĩ lại nếu bạn thực sự muốn có sự phát triển…See More
Friday
Bùi Văn Hải replied to Bùi Văn Hải's discussion Điều kiện để làm admin (chủ nhà)
"Lục lại những lời hứa :)"
Jul 23
Bùi Văn Hải replied to hồ thị Yến's discussion Bảo dưỡng nhà
"Cảm ơn bạn Hải Đường đã tự nguyện, tự giác góp chút gạo cho một năm…"
Jul 23
Hải Đường liked Phan Minh Khanh KD44's discussion Chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh qua mạng
Jul 23
Hải Đường shared hồ thị Yến's discussion on Facebook
Jul 23
Nguyễn Anh Tuấn replied to Đinh Xuân Lập's discussion CHIA SẺ TÀI LIỆU CHUYÊN NGÀNH THỦY SẢN
"Sao chỉ có bao nhiêu thôi vậy các bác? Ai còn tài…"
Jul 22
Mr Trường is now a member of NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Jul 22
Đặng Châu Luân updated their profile
Jul 18

© 2014   Created by Bùi Văn Hải.

Badges  |  Report an Issue  |  Terms of Service

Follow Us Follow Us Smilies
Mời xem: Tại sao PLC bị đàn áp ở TQ?
Mời xem: Điều kiện để làm Admin và duy trì NHÀ CSV