1. Tham: ưa muốn, ham mê, đắm say, thích thú, cố giữ, keo kiết, ưng được thỏa mãn, mong được khoái lạc, danh vọng,...

2. Sân: chán ghét, giận dữ, thù hận, nóng nảy, chống trả,...

3. Si: ngu dốt, đần độn, lầm lạc, thành kiến, giáo điều, cuồng tín, mê tín,...

“Không lửa nào bằng tham,
Không chấp nào bằng sân,
Không lưới nào bằng si,
Không sông nào bằng ái.”

Hôm nay quí Phật tử đến chùa, xin tôi nói pháp hướng dẫn nhắc nhở cho quí vị tu hành. Riêng phật tử ở Biên hòa, mấy năm nay được nghe kinh nhiều, hơn nữa quívị hiện có mặt ở đây đa số là người lớn tuổi. Nên tôi không nói đạo lý cao siêu, mà chỉ nhắc cho quí phật tử biết rõ ý nghiã tu hành.Vì quí vị đã nghe kinh hiểu đạo, giờ cần thiết là phải tu.

Thế thường nói đến tu hành người đời thường hiểu lầm rằng: Tu là phải bị hành phạt, tự hành phạt cách này cách nọ. Hiểu như thế là không đúng. “Hành” đây có nghĩa là thực hành điều mình đã học qua kinh luận Phật Tổ dạy, chớ không phải học hiểu suông. Nhiều phật tử đến chuà nghe chúng tôi giảng dạy đã hiểu mà về nhà không thực hành. Học đạo như thế là chưa tròn ý nghiã. Ví dụ có người bệnh đến nhờ bác sĩ khám bệnh, bác sĩ khám xong đưa toa và dặn rằng: “Ông uống theo toa thuốc này thì bệnh sẽ hết”. Người bệnh nhận được toa thuốc hay mừng qúa, cầm đọc thuộc lòng, mà không chịu mua thuốc uống. Như vậy bệng có hết không? Chắc chắn là không hết dù thầy giỏi thuốc hay. Thế nên, khi được toa thuốc rồi phải mua thuốc uống mới hết bệnh. Hiện tại quí phật tử nghe kinh học đạo biết tham, sân, si là xấu, là bệnh. Vậy quí vị bỏ được chưa? - Chưa. Đây là điều mà tôi muốn nhấn mạnh hôm nay. Chúng ta học kinh luận , ai cũng biết sân là món độc làm tiêu mòn hết công đức tu hành. Một lần nổi sân thì bao nhiêu công đức tu hành gây tạo hồi nào đến giờ ngang đây liền tiêu tán. Chẳng hạn từ trước đến giờ quí vị đối xử với mọi người rất tốt, giúp ích đở đần họ mọi việc, nên họ biết ơn và thương mến quí vị. Nhưng một hôm nào đó họ làm điều bất chánh, khiến cho quí vị bực mình nổi sân la chưởi họ làm cho họ ghét quí vị, thì công ơn mà quí vị giúp họ mấy năm qua không còn nữa. Chỉ một phút giây nổi sân là công đức tiêu tan hết. Sân giận tác hại như thế! Quí vị học ba năm qua, buông bỏ sân giận được bao nhiêu rồi? - Dạ chút chút. Học ba năm mà bỏ được chút chút, như vậy là tiến chậm quá ! Học Phật mà chưa bỏ được tham, sân, si là chưa có thực hành,chưa có tu,thì sẽ bị nhười đời chê cười : Chị đó đi chuà học đạo đã lâu, thế mà đụng tới chị nổi sân ầm ầm, học đạo  như  vậy  đâu  có lợi ích!  Chính vì vậy mà hôm nay tôi phải nhắc nhở quí vị. Những điều quí vị đã học thì phải nổ lực tu hành và phải nhớ đi chùa về nhà ai nói gì cũng nhịn cũng vui vẻ.

Năm vừa qua có một phật tử từ Bến tre đến Thiền viện, lúc mười giờ trưa, gần tới giờ thọ trai. Ông xin tôi cho hỏi hai câu, được giải đáp xong là ông về Bến tre liền. Ông hỏi:

- Thưa Thầy, con học đạo hiểu đạo, ăn chay trường, tụng kinh niệm Phật. Nhưng không biết tại sao nóng giận con bỏ chưa được, tham lam con bỏ cũng không được, thấy cái gì đẹp con cũng ham. Xin Thầy chỉ dạy con phương pháp bỏ được tham, sân, si?

Quí Phật tử hiện có mặt ở đây có giống phật tử Bến tre này không? Đa số phật tử đều vấp phải lỗi này. Vậy làm sao bỏ được nóng giận, làm sao bỏ được tham lam? Tụng kinh niệm Phật cũng chưa hết tham sân. Còn tụng kinh, còn niệm Phật thì tham sân tạm lóng lặng một chút. Ngưng tụng kinh, thôi niệm Phật gặp duyên thì tham sân vẫn bộc phát. như vậy làm sao cho hết tham sân? Tôi hỏi đạo hữu ấy rằng:

-Theo đạo hữu thì mỗi khi người ta làm trái ý đạo hữu, đạo hữu nổi giận lúc ấy đạo hữu phải làm sao ?

Thưa, phải nhịn.

À  nhịn lần thứ  nhất. Nhưng  lần  thứ hai họ làm nữa, đạo hữu ráng nhịn lần thứ hai. Lần thứ ba họ làm nữa thì đạo hữu làm gì? Chắc nói: “Tôi nhịn lần thứ ba rồi nghe, lần nữa là tôi không nhịn đó!”. Phải vậy không ? Bởi nhịn đây là do đè. Vì đè nên quá sức chịu đựng thì bung. Vậy, muốn không giận mà cũng không cần nhịn phải làm sao? - Cần thấy rõ nguồn gốc sanh ra nó. Sở dĩ chúng ta có tham lam, có sân giận là do chấp ngã, thấy mình quá cao, quá lớn, muốn như thế này, muốn như thế nọ; muốn mà không được thì tức giận. Ví dụ quí vị ở nhà với quyền làm cha làm mẹ, mỗi khi con cái làm điều gì trái ý liền nổi giận la rầy. Còn đến cơ quan chính quyền, họ làm ngược ý, quí vị có dám giận không? - Không. Tại sao con cái làm trái ý quí vị giận còn chính quyền làm ngược ý quí vị không dám giận? - Tại sợ. vì đến cơ quan chính quyền, quí vị tự thấy mình thấp hơn họ, nên sợ không dám giận. Còn con cái trong nhà, quí vị thấy nó nhỏ, cái ngã quí vị cao lớn hơn nó nên dễ nóng giận. Rõ ràng bệnh sân giận gốc từchấp ngã mà ra, chấp ngã là do si mê. Như vậy, muốn hết sân giận phải phá trừ chấp ngã, làm cho cái ngã mòn đi, thấp xuống. Đó là then chốt của sự tu hành . Sỏ dĩ chúng ta chấp ngã là do chúng ta thấy thân tâm mình là thật,nên quí nó, thấy nó cao trọng hơn mọi người,lo vun bồi tô đắp cho nó to lớn thêm. Giờ đây  quán  chiếu  thấy  nó vô thường, duyên hợp  tạm có không thật, thấy như htế niệm chấp ngã liền tan.

Đa số người học Phật, thấy Phật Tổ dạy trong kinh luận: Thân này là vô thường giả tạm, chúng ta cũng nói theo thân này là vô thường giả tạm. Chớ tự mình chưa có kinh nghiệm bằng trí tuệ thấy rõ thân này vô thường giả tạm; nên miệng nói thân vô thường giả tạm, mà ý niệm cứ nghĩ mình thật, mình sống lâu, nên tham lam sân giận mãi không hết. Giờ đây phải dùng trí quán sát thân này thật là giả, thì tham sân ngang đó liền hết. Bây giờ quí vị hãynghe tôi hỏi :

- Hiện tại chúng ta ngồi đây, lỗ mũi đang làm gì?

- Dạ đang thở.

- Thở là sao và để chi?

- Thở là hít không khí của trời đất để sống.

- Không khí ở ngoài của trời đất, chúng ta hít vô là mượn, mượn vô rồi trả ra, trả ra rồi mượn vô, mượn vô rồi trả ra... mượn trả đều đặn gọi là sống. Nếu trả ra mà không mượn vào thì sao?

Dạ chết.

Như vậy, kiếp sống của con người là một việc vay mượn, còn trả ra còn mượn vào là còn sống, hết mượn hết trả là chết. Vậy làm việc vay mượn có thể gọi là mình sống thật không? Ví dụ gia chủ cất được một cái nhà, mà chưa sắm được đồ đạc, nên mượn tủ bàn ghế... của hàng xóm để trang trí trong nhà. Những món đồmượn của hàng xóm nói là đo của mình thật được không? Đồ mượn là phải trả, nó đâu thật của mình ! Cũng vậy, thân này mượn không khí vô rồi trả ra, trả ra rồi mượn vô, còn muợn là còn sống, trả ra không mượn vào thì chết làm sao nói thân này là thật được? Thân này chẳng  những mượn không khí, mà còn phải mượn nước; mượn nước rồi cũng trả, trả rồi muợn nữa... Một ngày, một tuần không mượn nước có sống không ? - Dạ chết ! Chẳng những mượn không khí, mượn nước, mà còn phải muợn cơm nữa. Một lát mượn một chén cơm, hai chén cơm, ba chén cơm... mượn rồi cũng phải trả.  Phật nói thân này do tứ đại đất, nước, gió, lửa hợp lại mà thành. Họp rồi nó không tự sống, không tồn tại được, mà phải mượn đất nước, gió, lửa bên ngoài bồi bổ luôn luôn; thở là mượn gió, uống là mượn nước, ăn là mượn đất, trong tức ăn có những chất nóng là lửa. Đất, nước, gió, lửa có sẳn trong thân mà không tự tồn tại được, pphải tiếp tục mượn đất, nước, gió, lửa bên ngoài luôn luôn. Còn vay mượn là còn sống, trả mà không mượn là chết; kể cả bốn thứ, thứ nào trả mà không mượn là chết ngay. Như vậy kiếp sống con ngườilà một cuộc vay mượn, đã là vay mượn  thì  không  thể  nhận là thật  được. Cuộc sống đã không thật thì cái gì thật là NGÃ mà chấp “ta là quan trọng, ta là trên hết” ? Khi thấy thân này vay mượ tạm bợ không bền không lâu, có gì quan trọng để tham lam sân giận ? Giả sử có người nói những lời mắc mỏ, nặng nề, nếu mình thấy thân mình tạm bợ không thật, thì bỏ qua không chấp, không cần đè nén gì hết. Chẳng hạn người đau nặng hấp hối sắp chết, nếu ai chưởi mắng họ, họ có chưỏi lại không ? - Không, vì lúc đó họ lo thở, đang chờ chết đâu để ý chưởi lại. Do con người lúc nào cũng thấy thân tâm mình thật sống lâu, nên chống đối chưởi lại. Như vậy, khi nào thấy thân tâm mình thật sống lâu thì lúc đó có hơn thua... Còn lúc nào thấy thân tâm tạm bợ giả dốithì lúc đó không còn hơn thua, hết tham lam sân giận.

Từ đây quí Phật tử nhớ rõ thân này là tạm bợ giả dối, nó là sự vay mượn không bền lâu; hơn thua để làm gì? Nếu không hơn thua là mình đã nhịn rồi phải không ? Nhịn như thế có ngu không? - Không. Chúng ta nhịn mà không đè nén gì hết, thấy thân tạm bợ giả dối nên không hơn thua tranh chấp. Ngày nay mình còn ở đây, ngày mai chắc gì còn, nếu cứ tranh giành hơn thua không chịu lo tu, chết đến sẽ khổ đau.Người bỏ qua những chuyện hơn thua để tu; tu để ngày mai được an vui thanh nhàn, đó là người trí. Còn  những  người cứ  câu mâu hơn thua làm khổ với nhau,  chẳng những khổ trong hiện tại mà khổ cả ngày mai; người như thế không khôn. Như vậy, chính vì người trí thấy thân này tạm bợ vô thường, cuộc sống quá ngắn ngủi, lo tu hành, bỏ qua mọi chuyện tranh chấp hơn thua. Do không hơn thua nên người đời nói là nhẫn; sự thật không có nhẫn. Với mắt trí tuệ thấy người vật không bền không thật nên không chấp; không chấp nên được an vui, do không chấp mà tâm được an vui nênđối với người không chấp dù có mắng chưởi họ, họ vẫn cười không giận. Không như người đời nghe thấy ai nói làm hơn mình, cố gắng đè nén, đè nén quá sức chịu đựng thì nổ bung, la lối mắng chưởi lại. Như thế là chưa điều phục được sân giận. Muốn điều phục  sân giận có kết qủa tốt, thì phải dùng trí thấy rõ thân này, cuộc sống này vô thường tạm bợ không có thật ngã. Khi đã thấy thân này, cuộc sống này tạm bợ không thật, thì không khởi niệm tranh chấp hơn thua.Đã không có niệm tranh chấp hơn thua thì đâu có sân giận. Hơn nữa, khi thấy thân này tạm bợ, sống nhờ sự vay mượn, thì có tham muốn nhiều không? - Không. Con người sở dĩ tham ăn ngon, tham mặc đẹp, tham ở cao sang... là để cho thân này được sung sướng. Nhưng thân này tạm bợ giả dối, sống sung sướng để chi? Thôi thì sống sao cũng được, nên không khởi lòng tham. Do không tham muốn nên sự mất còn, hơn thua không bận lòng, không lo buồn. Sự mất còn hơn thua không bận lòng thì đâu có sân giận. Như vậy khi thấy thân này tạm bợ giả dối không thật là phá được si mê, si mê hết thì không còn tham, tham hết thì nóng giận đâu còn, khổ đau hết sạch. Nếu quí Phật tử tụng kinh hay niệm Phật giỏi, vẫn còn chấp thân này là thật là quí thì tham sân không bao giờ hết. Vì vậy mà Phật dạy chúng ta quán thân vô thường hay quán pháp vô ngã. Do thấy kiếp sống của con người là sự vay mượn không bền không thật, nên lúc tôi ở Chân Không có làm một bài kệ nói về mạng sống con người như sau :

            Mạng sống trong hơi thở,

            Trong nhịp đập quả tim.

            Thế nào là mạng sống?

            Sự vay mượn liên tục.

Kiếp sống cuả con người là gì Là sự vay mượn đất, nước, gió, lửa thường xuyên. Còn vay mượn là còn sống, ngừng vay mượn là ngưng thở, tim không đập là chết. Kiếp sống của con người tạm bợ không thật, vậy mà người đời cứ tưởng là thật rồi tranh giành hơn thua, gây đau khổ cho nhau không dừng không dứt.

Hôm nay tôi không giảng nhiều mà chỉ nhắc nhở cho quí Phật tử nghe hiểu được lời Phật dạy rồi cố gắng ứng dụng tu hành, để cho bản  thân  mình  bớt  si, bớt tham, bớt sân, như  thế mới là người Phật tử có tu, có tiến bộ. Nếu đi chùa lâu học giáo lý nhiều, mà tham, sân, si vẫn còn nguyên thì tự thân mình không được lợi ích, lại còn bị người đời cười chê. Vì vậy, tôi mong quí vị nghe qua cố gắng tu hành cho tham, sân, si tiêu mòn để được an vui.

Nguồn: Thientongvietnam

Từ khóa: si, sân, tham, tâm sở

Lượt xem: 1870

Trả lời - thảo luận (Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)

Trả lời thảo luận này (Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu) - Kho Icons

Tóm tắt từ bài giảng của Hòa Thượng Thích Thanh Từ

Những phương thuốc trị những bệnh THAM, SÂN, SI:

1/ Tham:

Tham tiền của: dùng thuốc bố thí để trị vì làm được việc lợi ích mà hết tham.

Tham sắc: dùng thuốc quán bất tịnh (quán thân mình hoặc quán thân người chết). Thân này là nhơ nhớp (ngủ dậy không đánh răng sẽ ra sao? mấy tháng không gội đầu sẽ như thế nào và mấy tuần không tắm sẽ thành gì? v.v và v.v)

Tham danh: muốn chức vụ cao, muốn người ta khen, v.v : dùng thuốc vô thường, quán khổ (cầu danh, trước khi được khổ, được rồi cũng khổ, khi mất càng khổ)

Tham ngủ: mất hết thì giờ có 2 thuốc:

Thuốc vô thường: cuộc sống là tạm bợ! Thức dậy để tu hành, để giúp đỡ gia đình, để quý thời giờ.

Thuốc tinh tấn trị bệnh lười biếng: nghe tiếng kẻng chưa dậy, lấy roi tinh tấn đánh.

Tham ăn: quán bất tịnh, quán vô thường (ngon có mấy giây)

2/ SÂN: Nhịn là khôn, nói là dại.

Quán từ bi: nói bậy, làm bậy là người điên. Chửi vô cớ, làm nhục vô cớ người đó không còn trí minh mẫn. Người đó đáng thương, đáng tội nghiệp.

Khéo tu hết nóng, trị nóng giận: tu hạnh nhẫn nhục và quán từ bi.

3/ SI: si mê rất nguy hiểm, chấp những cái không thật cho là thật vì si mê sanh ra tham, sanh ra nóng giận.

Thuốc gì trị bệnh si mê? Dùng thuốc trí tuệ mà trị. Si mê là bóng tối. Trí tuệ là ánh sáng.

* Bệnh ngã ái, ngã mạn:

Ngã ái: là thương thân này, quý thân này.

Ngã mạn: mình là quan trọng, mình là cao hơn người ta.

Dùng thuốc: trong kinh bát nhã: sắc uẩn, thọ uẩn, hành uẩn, tưởng uẩn, cái thân không thiết.

Dùng quán chiếu, thuốc trị bá bệnh: lục tự di đà (tu tịnh độ)

Tu thiền: khởi lên không theo, dấy lên bỏ không theo.

Đặt nặng niềm tin nhờ Phật gia hộ.

Ba bệnh ngặt nghèo là tham, sân, si

 Nguồn: Yume

Phép tu

  • Ta phải thực hành phép "Thiểu dục tri túc" (Ít muốn biết đủ).
  • Ta phải tập dừng lại, tập quan sát để có thể biết phân biệt đúng sai, phải trái.
  • Ta phải biết thực hành các pháp môn tu.

Nguồn: wikipedia

TAM ĐỘC: THAM, SÂN, SI

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

THAM

“Tham” là tham lam. Ham muốn thái quá. Đắm say, thích thú muốn có nhiều những thứ mình ưa thích như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng v.v… Lòng ham đó chẳng hề biết chán, càng được thời càng ham. Tham cho mình, rồi tham cho cả bà con quyến thuộc, quốc gia, xã hội của mình. Cũng vì lòng tham, mà nhân loại tranh giành giết hại lẫn nhau. Kẻ tham hay ghen ghét những người thành tựu.

Nếu có tâm tham thời phải “tu tâm” ngay, phải tập tính “thiểu dục tri túc”. Thiểu dục là muốn ít, tri túc là biết đủ. Người thiểu dục, tri túc thì có một đời sống giản dị, thanh cao và an toàn vì biết đủ với những thứ mình đã có. Bỏ dần lòng tham đi để đạt tới được “vô tham”. Vô tham là không tham lam.

Ở đời, có năm món dục lạc, mà người ta thường ham muốn nhất là: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. “Ngũ trần dục lạc” ấy, thật ra, vui ít mà khổ nhiều. Tham tiền thời phải đày đọa thân sống, đôi khi còn dùng những phương tiện bất chính để chiếm đoạt và khi mất thì lại đau khổ. Đối với sắc đẹp nên quán thân là bất tịnh, tham sắc thì nhiều khi lại lao vào những mưu chước tồi tệ để thỏa lòng dục vọng. Tham danh vọng, quyền tước thì phải vào lòn ra cúi, lao tâm khổ trí. Tham ăn uống cao lương mỹ vị thì bị nhiều bệnh khó trị, thân thể mệt nhọc, mạng sống không thọ. Tham ngủ nghỉ thì trí não hóa đần độn. Ngũ trần dục lạc đó chính là những nguyên nhân ràng buộc kiếp người vào vòng sinh tử, luân hồi, sa đọa.

Truyện tích kể rằng một phú gia không con, chết đi, bỏ lại tất cả tài sản sự nghiệp lớn lao. Vua truyền lệnh cho nhập gia sản của ông vào quốc khố và đến hầu Đức Phật. Vua bạch lại tự sự với Đức Phật và ghi nhận rằng mặc dầu nhà phú gia này ở gần nơi Đức Phật ngự, không bao giờ ông để bát cúng dường Ngài. Nhân cơ hội này Đức Phật kể thêm về tiền kiếp của phú gia là đã từng làm việc thiện bằng cách cúng dường một vị Bích Chi Phật nhưng lại tiếc của đem cúng và còn phạm một tội ác là giết cháu ruột để giành gia tài của anh mình. Đức Phật nhân đó dạy rằng:

(Pháp Cú 355)
Giàu sang, tài sản dồi dào
Chỉ làm hại được kẻ nào ngu thôi,
Dễ gì hại được những người
Đang cầu giác ngộ hướng nơi Niết Bàn,
Chỉ vì ham muốn giàu sang
Kẻ ngu tự hại bản thân đã đành
Hại thêm cả kẻ xung quanh.

Đức Phật ngợi khen người không tham lam và khuyên mọi người nên cúng dường các vị đó. Nhưng khi bố thí nên suy xét kỹ càng. Làm vậy sẽ tương tự như nếu đem hạt giống mà gieo trên đất lành, đất màu mỡ thời hạt mới đơm hoa, kết trái sum suê. Nếu gặp người thọ thí có đức hạnh mà bố thí sẽ được phước báu nhiều. Giảng về quả phúc của người cúng dường đến bậc hoàn toàn thanh tịnh, Ðức Phật dạy tham như cỏ hoang làm hại ruộng nương, đây là làm hại “đất tâm” của người tu hành và trị tham chẳng gì hơn là việc bố thí:

(Pháp Cú 356)
Cỏ hoang làm hại ruộng vườn
Tham lam gây hại nhiều hơn cho người,
Tham lam ai đã lìa rồi
Cúng dường vị ấy chẳng nơi nào bằng
Hưởng về phước báu vô vàn.

Theo Kinh “Thập Thiện Nghiệp Đạo” người không tham muốn thì được thành tựu những điều tốt đẹp sau đây: Ba nghiệp thân, khẩu, ý được tự tại, của cải không bị mất mát, hưởng phúc đức và những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.

Đức Phật còn dạy là đừng để tham và sân, đừng để tội lỗi lôi mình vào cảnh khổ. Tội lỗi ở đây nghịch nghĩa với chánh hạnh, là không theo giáo pháp, trong câu sau này có nghĩa là sân hận. Căn nguyên của điều ác là tham lam và sân hận:

(Pháp Cú 248)
Các ngươi nên biết rõ rằng
Dễ gì chế ngự việc làm ác đâu
Tham lam, tội lỗi hố sâu
Kéo ta xuống chốn khổ đau đời đời.

SÂN

“Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không vừa lòng, không được thỏa thích như ý muốn. Bất bình vì bị xúc phạm, nhân đó làm những chuyện sai trái. Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù.

Sở dĩ sân sinh khởi là do lòng yêu thích “cái ta” hay thích “cái của ta”. Nếu người ta mắng nhiếc, chê bai kẻ nào khác thời ta không thấy giận, nhưng nếu ai chửi bới hoặc khiển trách ta hay người thân của ta, hoặc làm tổn hại tài sản của ta lập tức ta cảm thấy khó chịu ngay. Khi khó chịu tăng dần thời sẽ trở thành nóng giận. Nhưng nên nhớ rằng trên đời này không ai tránh khỏi bị khiển trách, bị chê bai, khó tránh khỏi miệng thế gian như Đức Phật đã từng đưa nhận xét:

(Pháp Cú 227)
Người con Phật hãy nghe đây
Chuyện không phải chỉ đời này mà thôi
Từ đời xưa đã nói rồi:
“Làm thinh thời sẽ có người chê bai,
Nói nhiều cũng bị chê hoài,
Dù cho nói ít cũng người chê thôi”.
Làm người không bị chê cười
Thực là chuyện khó ở nơi cõi trần.

Trong quá khứ, trong tương lai và trong hiện tại chưa hề có người nào bị tất cả mọi người chê bai hay được tất cả mọi người khen ngợi, đúng như lời Đức Phật dạy:

(Pháp Cú 228)
Ở đời toàn bị chê bai
Hay toàn nghe tiếng người ngoài khen ta
Từ xưa chẳng thấy xảy ra,
Tìm trong hiện tại thật là khó sao,
Tương lai cũng chẳng có nào.

Nhưng vì bị chê bai mà nổi sân thời tai hại vô cùng vì lúc nóng giận thì con người không còn đủ bình tĩnh để tự kiểm soát hành vi và ngôn ngữ của mình. Kinh Hoa Nghiêm có nói: “Một niệm lòng sân hận nổi lên, thì trăm ngàn cửa nghiệp chướng đều mở ra.” Và: “Một đốm lửa sân, có thể đốt hết muôn mẫu rừng công đức.” Đức Phật khuyên: “Hãy từ bỏ nóng giận thì phiền não sẽ không đến với các ngươi.”

Phải tu tâm để đạt tới “vô sân”. Vô sân là không nóng nảy, hết giận hờn. Chúng sinh bị qua nhiều kiếp sinh tử luân hồi chính vì không thắng nổi lòng sân. Chư Phật được tự tại, giải thoát, là do dứt trừ được lòng sân tận gốc. Điều khó nhất là diệt trừ phẫn nộ ngay từ trong tâm. Khi tâm chúng ta không còn nghĩ đến giận hờn thì tự nhiên cơn phẫn nộ sẽ không bộc phát. Trong khi đốn cây để cất tịnh thất cho mình, thầy Tỳ kheo nọ vô tình làm tổn hại đến cái chồi non của một vị thần cây. Vị này nổi giận, muốn giết thầy nhưng kịp nghĩ suy nên kiềm chế được cơn sân hận của mình đang phát sinh. Ðức Phật tán dương vị thần và dạy:

(Pháp Cú 222)
Khi cơn giận dữ bùng ra
Ai mà ngăn được mới là người hay
Giỏi như hãm lại được ngay
Chiếc xe đang chạy chở đầy, phóng nhanh,
Nếu không thì bản thân mình
Cầm cương hờ hững tài tình gì đâu.

Đại đức Mục Kiền Liên hỏi thăm nhiều vị Trời nhờ công đức gì mà được tái sinh vào cảnh trời. Các vị này kể ra những hành động xem ra có vẻ không quan trọng lắm như chân thật, nhẫn nại và bố thí v.v… Khi ngài Mục Kiền Liên bạch hỏi Đức Phật vậy những hành động tuy nhỏ nhưng tốt lành có thể nào dẫn đến các cõi trời không, Đức Phật dạy:

(Pháp Cú 224)
Nói lời chân thật luôn luôn,
Dẹp cơn nóng giận dỗi hờn khó coi,
Dù ta có ít của thôi
Cũng chia bố thí cho người đến xin,
Nhờ ba việc tốt lành trên
Đưa ta đến cõi chư thiên, cõi trời.

Giảng về quả phúc của người cúng dường đến bậc hoàn toàn thanh tịnh, Ðức Phật dạy rằng cỏ dại làm hại ruộng vườn thời lòng sân hận cũng làm hại loài người. Vì vậy người nào diệt hết lòng sân hận thì người đó đáng được ngưỡng vọng và khâm phục:

(Pháp Cú 357)
Cỏ hoang làm hại ruộng vườn
Lòng sân gây hại nhiều hơn cho người,
Ai lìa sân hận được rồi
Cúng dường vị ấy chẳng nơi nào bằng
Hưởng về phước báu vô vàn.

Voi là một con vật quan trọng hàng đầu trong số những thú vật được con người huấn luyện để sử dụng. Giống như voi với sức mạnh có thể bứng gốc một thân cây, quấn vòi quanh thân cây ấy để mang đi dễ dàng, Đức Phật dạy rằng con người cũng có thể tạo cho mình tiềm lực vật chất, nghị lực tinh thần, lòng kiên nhẫn và sức mạnh, chẳng khác một con voi thuần thục. Luyện được lòng nhẫn nhục mới là khó:

(Pháp Cú 321)
Luyện voi dự hội, tài thay
Luyện voi vua cưỡi cũng hay vô cùng,
Nhưng mà nếu luyện được lòng
Luôn luôn nhẫn nhục, chẳng còn nổi sân
Khi nghe phỉ báng bản thân
Mới là điêu luyện, muôn phần tài hơn.

Đức Phật dạy rằng tự chế ngự được mình mới là điều rất quý và người chịu cố gắng, đủ nhẫn nại để tự huấn luyện mình thời cũng sẽ được hưởng kết quả tốt lành như người đã khéo huấn luyện các con thú vật như la, ngựa và voi. Con người thuần thục, giới đức trang nghiêm là hơn tất cả:

(Pháp Cú 322)
Con la được huấn luyện qua
Trở nên thuần tánh, tỏ ra tốt lành,
Ngựa nòi sinh chốn sông xanh
Sau khi huấn luyện, trở thành ngựa hay,
Voi ngà to lớn quý thay
Sau khi huấn luyện voi này tuyệt luân,
Con người nếu chính bản thân
Tự mình thuần hóa được luôn chính mình
Mới là người thật tài tình!

Đức Phật khuyên chúng sinh hãy từ bỏ cả tham lẫn sân. Ngài ví một chiếc thuyền như thể xác, như tấm thân con người do năm uẩn tạm hợp. Thân này sẽ tan rã vì vô thường, nên xét kỹ thời thấy nó quả thật trống không. Nước trong thuyền là những tư tưởng xấu cần diệt trừ. Tát cho khô nước tức là dập tắt ngay lửa tham sân. Khi thuyền khô cạn nước thời thuyền trở nên nhẹ nhàng để mau chóng qua bờ. Thân tâm dẹp sạch tham dục và sân hận thời trở nên thanh tịnh, đó là điều kiện tốt để sớm chứng được cảnh Niết Bàn:

(Pháp Cú 369)
Tỳ Kheo tát nước thuyền này
Thuyền không nhẹ nhõm xuôi ngay theo dòng,
Tham và sân trừ diệt xong
Thân này cũng nhẹ thoát vòng nhiễm ô
Niết Bàn mau chóng qua bờ.

Theo Kinh “Thập Thiện Nghiệp Đạo” người nào không nổi sân, thì tâm không khổ não, tâm không tranh giành, tâm nhu hòa ngay thẳng, tâm từ bi như Phật, thường làm lợi ích yên ổn cho các chúng sinh, thân tướng trang nghiêm được chúng sinh tôn kính và vì có đức nhẫn nhục nên sẽ được mau sinh lên cõi Phạm Thiên.

SI

“Si” là si mê, vô minh, ngu tối. Người vô minh không sáng suốt, không suy xét hiểu biết đúng lẽ phải, đúng sự thật để phán đoán việc hay dở, tốt xấu, lợi hại v.v… nên mới làm những điều nhiễm ô tội lỗi, có hại cho mình và người. Si, vô minh theo thế tục gọi là “dại” hay “ngu”. Vô minh che lấp tâm trí, làm cho con người không còn nhìn thấy được những chất bợn nhơ đang gậm nhấm từ bên trong con người khiến các thói hư tật xấu ấy sẽ tăng dần và cuối cùng đưa con người vào con đường tội lỗi triền miên. Đức Phật dạy rằng vô minh là điều ô trược tệ hại nhất. Hãy dứt bỏ vô minh để trở thành người trong sạch

Hai ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên bạch với Ðức Phật rằng họ không thể thuyết phục được ông thầy của họ trước kia đến gặp Ðức Phật và nghe giáo pháp vì vị này còn quá luyến ái tín đồ riêng. Nhân dịp này Ðức Phật giải thích sự khác biệt giữa người suy luận chân chính với người suy luận sai lầm và hậu quả dĩ nhiên của mỗi lối suy luận:

(Pháp Cú 11)
Những gì không thật, hão huyền
Lại cho là thật và tin vô bờ,
Những gì chân thật lại ngờ
Lại cho không thật, chỉ là giả thôi,
Nghĩ suy lầm lạc mất rồi
Thấy sao chân thật rạng nơi pháp mầu.

(Pháp Cú 12)
Biết đây là thật để tin
Biết kia không thật, hão huyền mà thôi
Nghĩ suy theo đúng đường rồi
Thấy ngay chân thật rạng nơi pháp mầu.

Với hai câu Pháp Cú kể trên, chúng ta đã thấy vai trò chủ yếu của vô minh và tà kiến trong các nguồn gốc phát sinh các hành vi bất thiện. Như vậy chúng ta cũng không lạ gì khi Ðức Phật khuyên chúng ta không nên tu theo lối khổ hạnh khắt khe, ép xác, chỉ nhắm vào bề ngoài và không nên chuyên lo tế tự, vì những hành động này không dẫn chúng ta đến giác ngộ giải thoát, không giúp chúng ta trở nên trong sạch. Thấy một vị Tỳ kheo có nhiều đồ đạc, của cải riêng tư, lại thêm có nhiều y, Ðức Phật quở rầy. Thầy giận, cởi bỏ hết áo cà sa mặc bên ngoài quăng đi, chỉ mặc chiếc áo cánh ở trong thôi. Ðức Phật thuật lại câu chuyện tương tự đã xảy ra trong tiền kiếp của thầy. Ngài khuyên đi tu phải sống đạm bạc, trong tâm phải biết hổ thẹn khi làm điều quấy và biết lo sợ khi phạm tội lỗi. Muốn thanh lọc thân tâm thì cần dứt bỏ lòng hoài nghi:

(Pháp Cú 141)
Dù tu khổ hạnh triền miên
Trần truồng, bện tóc, tro đen xoa mình
Nhịn ăn, nằm đất, lăn sình
Sống dơ, ngồi xổm để hành xác thân
Nào đâu thanh tịnh được tâm
Nếu không trừ dứt đi phần hoài nghi.

Một thời ở Ấn Ðộ vẫn còn tồn tại nhiều hình thức khổ hạnh. Lớp dơ dáy bên ngoài được vài người xem là dấu hiệu của bậc thánh nhân. Ðức Phật không chấp nhận hình thức khổ hạnh khắt khe chỉ nhắm vào bề ngoài như thế. Các tu sĩ theo con đường tu hành của Ngài phải đi theo một con đường ở khoảng giữa, đó là “trung đạo”. Phải tránh hai cực đoan, một là khổ hạnh và đường khác là lợi dưỡng. Giản dị, khiêm tốn, thanh đạm cùng với lối sống sạch sẽ là những đặc tính chính yếu của chư vị Tỳ kheo. Hơn nữa muốn cho tâm ta được thanh tịnh thời cần dứt bỏ đi phần hoài nghi vì nếu chưa nhiếp phục được hoài nghi tức là không có niềm tin nơi Phật, Pháp và Tăng.

Đức Phật dạy rằng dù cho có tế thần lửa trong một thế kỷ không bằng trong giây lát tôn kính bậc chân tu hoàn toàn trong sạch, có đạo hạnh. Cháu của ngài Xá Lợi Phất, theo lời thầy của anh ta truyền dạy nên anh có thói quen mỗi tháng giết thú vật và đốt lửa rừng tế thần để cầu mong được tái sinh vào cảnh trời. Ngài Xá Lợi Phất đem cháu đến hầu Phật và Ðức Phật chỉ dạy, hướng dẫn người cháu về con đường chân chính nên theo:

(Pháp Cú 107)
Trăm năm ở tại rừng sâu
Dốc lòng thờ lửa cũng đâu sánh bằng
Chỉ trong giây lát cúng dường
Những người đạo hạnh một đường chân tu
Thật là công đức vô bờ
Hơn là thờ lửa mê mờ trăm năm.

Đức Phật cũng dạy rằng kính lễ một vị đắc quả thánh, một bậc chánh hạnh, dù chỉ là trong giây lát cũng đem lại công đức và thập phần quý hơn là cúng dường lễ vật hoặc vật thực đến người phàm tục. Một người bạn của ngài Xá Lợi Phất hằng năm tiêu phí rất nhiều tiền để giết thú tế thần và mở hội bố thí rộng rãi. Ðức Phật thuyết phục ông ta trở về lối cúng dường chân chính:

(Pháp Cú 108)
Suốt năm bố thí, cúng dường
Để cầu phước báu chẳng bằng so ra
Phần tư công đức của ta
Khi ta kính lễ những nhà chân tu
Thanh cao, chính trực vô bờ.

Thường thời không sợ “tham” và “sân” nổi lên, mà chỉ sợ mình tự giác ngộ chậm, chỉ sợ mình si mê, vô minh mà thôi. Nếu “tham” và “sân” nổi lên, mà ta sáng suốt phán đoán kịp thời, không có si mê, thì tham sân kia cũng chẳng làm gì được. Người học Phật phải dẹp trừ lòng si mê của mình, lúc nào cũng phải sáng suốt đối với tất cả mọi việc, phải tu tâm để đạt được “vô si”. Vô si là không mờ ám, không si mê. Đối với tất cả mọi việc, lúc nào cũng có trí tuệ sáng suốt, suy xét, phán đoán việc tà chính, hay dở, phải trái v.v… Do đó, việc làm mới chính đáng, tránh khỏi những điều tai hại, vừa lợi ích cho mình và vừa lợi ích cho người, ở hiện tại cũng như ở tương lai. Giảng về quả phúc của người cúng dường đến bậc hoàn toàn thanh tịnh, Ðức Phật dạy:

(Pháp Cú 358)
Cỏ hoang làm hại ruộng vườn
Si mê gây hại nhiều hơn cho người,
Si mê ai đã lìa rồi
Cúng dường vị ấy chẳng nơi nào bằng
Hưởng về phước báu vô vàn.

Theo Kinh “Thập Thiện Nghiệp Đạo” người không si mê, thì thành tựu được các pháp công đức sau đây: được ý vui chân thiện và bạn chân thiện; tin nhân quả, thà bỏ thân mạng chớ không làm ác; chỉ quy y Phật; tâm ngay thẳng, có chính kiến; sinh lên cõi trời, khỏi bị đọa vào ba đường ác; hưởng phúc huệ; không lòng chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp và khỏi bị nạn dữ v.v…

TAM ĐỘC

Trong Kinh Pháp Cú Đức Phật dạy rằng tam độc “tham, sân, si” là những nguyên nhân gây ra bất hạnh và phiền não, ưu tư cho con người. Tham, sân, si có thể được tìm thấy một cách dễ dàng nơi hành động, ngôn ngữ, và ý nghĩ của chính mình cũng như của kẻ khác. Kinh nghiệm cho ta biết bất cứ ở đâu hay lúc nào, nếu tham sân si có mặt và ngự trị thì cuộc sống riêng hay chung đều trở nên xấu xa đau khổ. Tham sân si là sản phẩm của con người và xã hội và chính chúng là nguyên nhân làm hư hại cuộc sống an lành của loài người giống như bông tre nở từ cây tre và là biểu tượng suy tàn của cây tre, nghĩa là khi tre trổ bông là lúc tre tàn lụi.

Một số đại phú gia đã lớn tuổi rồi mới đi tu. Một bà vợ của một người trong nhóm đó nấu nướng rất khéo léo nên hằng ngày họ thường mang bình bát trở lại đây để khất thực. Bà thí chủ cúng dường thức ăn đồ uống rất ngon lành. Khi bà này chết họ thương nhớ, than khóc, kể lể. Ðức Phật khuyên các thầy “Thực hành tâm không luyến ái vì khi nào còn rừng rậm tham, sân, si thời các thầy còn chịu đau khổ. Hãy đốn ngã rừng cây ấy các thầy mới được giải thoát”:

(Pháp Cú 283)
Đốn rừng nhưng chớ chặt cây,
Đốn rừng tham ái với đầy sân si
Chính do rừng dục vọng kia
Mà bao sợ hãi dễ bề sinh ra
Rừng to, rừng nhỏ quanh ta
Cả hai rừng đó mau mà đốn đi,
Các Tỳ Kheo hãy thoát ly
Thoát rừng dục vọng muôn bề tối tăm.

Hãy đốn rừng, nhưng không chặt cây thật. Khi Ðức Phật vừa nói “hãy đốn rừng”, có vài vị Tỳ kheo hiểu sai, theo nghĩa trắng. Ðọc ngay được tư tưởng sai lầm ấy Ðức Phật nhấn mạnh thêm, dạy rõ rằng rừng đây không phải là cây thật sự mà chỉ là đám rừng của những dục vọng như tham ái, sân hận và si mê. Do rừng dục vọng mà phát sinh sợ sệt. Hãy đốn ngã cả hai thứ rừng, rừng cây to và rừng cây nhỏ của dục vọng. Ở đây, cây to là những dục vọng lớn, có nhiều mặt năng lực và cây nhỏ là những dục vọng nhỏ, ít năng lực hơn.

Trong khi dạy cho con người biết “Tham, Sân, Si” là nguyên nhân của cuộc sống đau khổ, cần phải tiêu diệt, Đức Phật cũng nói cho chúng ta biết còn có ba pháp nữa là “Vô tham, Vô sân, Vô si” là những yếu tố tâm lý cần nên phát triển để xây dựng cuộc sống an lành. Muốn phát triển ba pháp thiện này chúng ta phải tu dưỡng theo chánh đạo gồm “Giới, Ðịnh và Tuệ”.

Lời khuyên thời thật dễ dàng, nhưng loài người đâu có dễ dàng phục thiện. Vì con người, đã lâu đời lâu kiếp bị những phiền não căn bản nhiếp phục chi phối. Một lần nọ Ðức Phật thuyết Pháp cho năm người nghe, chỉ có một người chăm chú nghe, còn những người kia thì lơ đễnh, không để ý đến lời khuyên dạy của Ngài. Một người ngủ gục, một người lấy ngón tay vẽ xuống đất, một người ngồi gần gốc cây lắc nhẹ cành lá, một người ngẩng nhìn trời xanh. Ðức Phật giảng rằng sở dĩ như vậy là do những khuynh hướng, các thói quen của họ đã có từ nhiều kiếp trong quá khứ. Khi Ðại đức A Nan bạch hỏi rõ lý do, Ðức Phật giải thích thêm rằng đó là do bốn nguồn cội “tham, sân, si, và ái dục”:

(Pháp Cú 251)
Lửa nào có thể sánh ngang
Lửa tham dục nọ dữ dằn vô biên,
Không còn cố chấp nào bền
Bằng tâm sân hận nổi lên cấp kỳ,
Lưới nào trói buộc dầm dề
So ra với lưới ngu si buộc ràng,
Sông nào chìm đắm cho bằng
Dòng sông ái dục cuốn phăng bao người.

Có hai vị Tỳ kheo. Một, thông suốt giáo pháp nhưng còn là phàm tăng, không thực hành những điều đã học. Vị kia, tuy không học nhiều nhưng thực hành trọn vẹn giáo pháp, từ bỏ tham, sân, si, nên đã đắc quả A La Hán, chứng ngộ Niết Bàn, thọ hưởng quả vị của đời sống thiêng liêng đạo hạnh. Một hôm vị phàm tăng muốn gây rối cho vị thánh tăng trước mặt Ðức Phật nên đặt ra nhiều câu hỏi gút mắc. Biết rõ ý định thấp hèn ấy, Ðức Phật nêu ra vài câu hỏi có liên quan đến sự chứng ngộ giáo pháp. Theo kinh nghiệm bản thân, vị A La Hán trả lời được tất cả nhưng vị phàm tăng thì không, vì không thành tựu được thánh đạo nào. Nhân dịp này, Ðức Phật ca ngợi vị A La Hán đã thực hành giáo huấn của Ngài, mặc dầu không thông suốt giáo pháp bằng vị phàm tăng:

(Pháp Cú 20)
Dù cho chỉ tụng ít kinh
Nhưng theo giáo pháp thực hành sớm khuya
Hết tham, hết cả sân, si
Lòng luôn tỉnh giác, tâm thì hiền lương
Trước sau giải thoát mọi đường
Tu hành lợi ích ngát hương muôn đời.

Theo Phật Giáo, pháp học sẽ không bổ ích nếu không thật sự thực hành điều đã học. Như vậy, Phật Giáo không phải là một triết học suông mà là con đường giác ngộ duy nhất.

Một thiếu phụ trẻ đẹp được người cha dẫn đến giới thiệu để làm vợ Ðức Phật vì người cha trông thấy tướng mạo trang nghiêm của Ngài. Nhưng Đức Phật từ chối. Ngài cho biết trước đây khi Ngài sắp thành Đạo dưới cội bồ đề Ma Vương từng cho ba người con gái tuyệt đẹp cố gắng lấy nhan sắc đến nơi để quyến rũ Ngài, nhưng tất cả đều thất bại. Ba người con gái đó là các nàng Tham ái, Ác cảm và Dục vọng. Giờ đây không ai có thể dùng bất cứ hình thức nào để dụ dỗ Ngài sa đọa được. Vì Ngài đã tận diệt mọi dục vọng, không còn dấu vết gì của tham, sân, si nữa. Cuộc chiến thắng tinh thần của Ngài không thể bị lay chuyển:

(Pháp Cú 179)
Chẳng ai hơn nổi con người
Đã từng thắng phục được nơi dục tình
Người như vậy chính thân mình
Ở đời không sợ dục tình dõi theo
Mênh mông Phật giới cao siêu
Tham, sân, si dấu tích đều còn đâu
Các ngươi cám dỗ dễ nào.

(Pháp Cú 180)
Lưới mê được giải tỏa rồi
Dục tình kia khó tìm người dõi theo
Mênh mông Phật giới cao siêu
Tham, sân, si dấu tích đều còn đâu
Các ngươi cám dỗ dễ nào!

Việc thực hiện con đường đi ra khỏi “tham, sân, si” luôn luôn được Đức Phật quan tâm và khuyến khích các đệ tử của Ngài hành trì để từ đó các pháp an lạc được tăng trưởng và các pháp khổ đau được diệt trừ. Nếu không khéo hành trì thì không những các khổ đau tăng trưởng mà các thiện pháp cũng bị tiêu trừ. Nếu ai ráng tu tập và trau dồi tâm trí để thoát khỏi vòng phiền não “tham, sân, si” tất nhiên người ấy sẽ được hoàn toàn giải thoát.

Diệu Phương Xuất Bản – 2006

THAM SÂN SI
Nguyễn Thiện Hữu

Có một cư sĩ xin vào gặp Hòa Thượng để tham vấn đạo,hỏi rằng:
- Tham sân si là gì?
Không cần suy nghĩ, Hòa Thượng nhanh nhẩu trả lời
- Ối cái ông nhà quê nầy, chỉ có vậy mà phải nhọc lòng
bần đạo.
Ông ấy đỏ mặt tía tai quầy quả ra đi tức khắc, không nói không rằng. Hòa Thượng gọi dựt trở lại:
- Ấy đấy là tham sân si, Tham sân si là ấy đấy! ông có hiểu được không? Chính vì ông Tham thân chấp ngã, nên hể ai động tới hoặc chê bai thì ông nổi sân, đỏ mặt tiá tai – Tham và sân từ đâu mà ra vậy? Chính là vì si – mê lầm lạc, ông thấy vạn hữu không thật như chính nó.
Xin tạm mượn mẫu chuyện nhỏ trên đây để gọi là bắt đầu cho một vài suy tư về tham sân si, cái mà, theo như đạo Phật, nó là gốc nguồn của mọi phiền não khổ đau, dẫn dắt vạn loài xoay vần trong biển tử sanh triền miên không dứt.
1. THAM:là một ước muốn, một khát vọng chiếm hữu, chinh phục một cái gì đó để nó thuộc về mình, để biến ta là bậc nhất trước đồng loại và vạn-loài. Vì tham là một khát vọng nên nó không có điểm dừng. Nếu hoàn cảnh không cho phép thì nó chỉ tạm dừng lại, trong tâm vẫn nung nấu, ôm ấp, hoài bảo. Môi trường của tham được thiết lập trên một xã hội tính, có ta và những cái ngoài ta.Thiếu một trong hai cái trên, tham thật khó mà thành tựu. Do vậy, đối tượng của tham, xung quanh đời sống con người không ngoài các yếu tố: tài, sắc, danh, thực, thùy (ngủ nghĩ).

  • * Tham tài tức là tham tiền. Xã hội văn minh ngày nay, tiền là một phương tiện tối hảo để con người trao đổi mua bán tất cả mọi tiện nghi vật chất: mua nhà cửa, xe cộ, áo quần, đồ trang sức, thực phẩm, máy móc, du-lịch, v.v… Cũng từ đồng tiền, đẻ ra thiện ác các thứ đủ loại, đủ kiểu, người ta có thể mua vũ khí, bom đạn để phòng vệ, có khi cũng để xâm lăng. Cũng từ đồng tiền, người ta có thể tương trợ lẫn nhau, cứu giúp lẫn nhau những khi hoạn nạn bởi tai trời ách nước…“Nhơn tham tài tắc tử, điểu tham thực tắc vong”. Câu này áp dụng rất đúng cho câu chuyện dưới đây, xin được kể lại quý vị cùng nghe. Đó là chuyện một tên ăn cướp, sanh nghề, tử nghiệp! Thời Pháp thuộc khoảng thập niên 49-50 ở Long Xuyên mùa nước lụt, nhà tôi cách thị xã 4Km, đường vào xóm nước ngập lỉnh bỉnh.
    Hừng sáng có một bọn cướp có vũ-trang, lảng vảng tại cầu đúc chận đón xe đò từ trên tỉnh ra. Họ bắt đầu kéo con ngựa sắt nằm ngang đường làm vật cản không cho xe chạy qua được. Thật là không may cho bọn cướp, họ đón nhằm một chiếc xe đò chở đầy lính hành quân từ trên quận xuống, họ đã quá trể để tháo chạy, trước một tầm đạn quá gần. Một tên bị thương ngay từ loạt đạn đầu. Hắn cố chạy và lủi ngay trong nhà tôi để trốn. Máu me đầy mình, ruột lòi ra một đống, hắn vừa mệt vừa khát nước vì mất máu, kêu gào thảm thiết xin được uống nước. Nhà chỉ còn có Cô Bảy với Má tôi. Ba và Chú Sáu thì đi chài từ sáng sớm. Cô Bảy với Má tôi cố gằng lôi hắn vào bên trong ngạch cửa để lính quận không thấy. Trong trực giác má sợ rằng họ phát hiện một tên cướp trong nhà mình trước cảnh dầu sôi lửa bỏng như vầy rất là nguy-hiểm, nên cả nhà đành phải chạy sang nhà bên cạnh để lánh nạn, đạn bay vèo vèo trên đầu, tiếng la hét của lính nghe đâu đây, thật gần…
    Trước khi rời khỏi nhà, tôi đã ân cần tắng cho hắn mấy tô nước… Tàn cuộc, cũng may là lính quận không tìm được tên cướp, xóm riềng xúm lại đầy nhà để xem mặt tên cướp. Có người gặp ba tôi ngoài đầu xóm, nhanh nhẩu báo tin:
    - Lẹ lên, trong nhà mày có một thằng bị bắn lòi ruột.
    Còn ai khác hơn là thằng con nầy! Ba tôi nghĩ như vậy trong trạng thái bàng hoàng, đau khổ cùng cực. Cho hay, một lời nói, dù vô-tình mà thiếu hay dư một chữ thôi, đủ để gieo khổ biết bao cho người!
    Tên cướp còn thoi thóp và chết trên đường ba tôi chở hắn về tận nhà cách đó mấy cây số.
  • * Tham sắc: là lòng ham muốn mình có một thân thể đẹp đẻ, hấp dẫn hơn người và là một ước vọng muốn chiếm hữu một nhan sắc đẹp khác thuộc về mình.
    Trong nhà Phật gọi đây chính là tham dục, là nhân quả trùng-trùng cuồng quay trong sinh tử luân hồi đã thành tựu một thế giới riêng gọi là dục-giới. Kinh Lăng – Nghiêm, Đức Phật dạy: “Trai mê sắc gái, gái đắm tình trai, tình ân ái không rời, ràng buột đời đời triền miên không dứt”.
    Tham dục là chủ nhơn ông có khả năng sai sử nhiều thứ tham khác nhứt là tham tiền, góp thêm phương-tiện để tham dục sớm thành tựu.
    Trong các thứ tham, dục là cái khó dứt trừ nhất vì nó là một thứ câu sinh vô minh (có sẵn nhiều đời). Người ta dễ dàng chết cho tình ái hơn bất cứ mọi thứ trên đời.
    Vạn loài vạn vật, từ vô thủy, không ai dạy ai những hiểu biết, những khát vọng, hành vi về tình ái. Mỗi loài, giữa đực và cái, bộ phận nào, thời điểm nào, tín hiệu ra sao để sanh con đẻ cái, đều tự biết lấy, không sai chạy. Cái biết đó là nghiệp vậy.
    Chư Phật, Chư Tổ đã nhìn thấy cái nguy của ái dục trong sự nghiệp tu-hành nên phải rút vào tận rừng sâu để mà… tử thủ, cho tới khi thành đạo, mới được xuống núi hành đạo cứu đời. Nếu mà tay ấn chưa cao, đạo lực chưa vững, xuống núi không khéo có ngày bị cọp tha
    như câu chuyện dưới đây:
    Tại một vùng rừng núi thâm u, xung quanh nhiều thú dữ. Hai thầy trò ẩn tu nhiều năm rất là miên mật, an nhiên tự tại. Vị tăng trẻ vào tu lúc còn nhỏ xa hẳn thế giới loài người, tâm-hồn bình-lặng, thanh tịnh như tờ giấy trắng. Một hôm có việc, thầy trò dắt nhau xuống núi nhân tiện ghé chợ mua sắm những nhu cầu tối thiểu cho một đời sống thanh tu.
    Đi ngang qua một gian hàng có một cô gái đẹp, vị tăng trẻ bấy giờ đang ở tuổi thanh niên, chỉ vào cô gái hỏi thầy:
    - Cái đó là gì vậy, thưa thầy?
    - Đi lẹ lên con, vị thầy trả lời. Nó là cọp đó, nguy hiểm lắm. Nó nhai hết cả hồn và xác của con đấy!
    Về chùa, vị tăng trẻ ngày đêm thao thức không yên tâm lúc nào cũng chập chờn thấy hình ảnh con cọp, sao mà dễ thương quá. Vị tăng thưa với sư phụ:
    - Chẳng thà con bị con cọp đó nhai đầu, hơn là con đau khổ thương nhớ không yên! Ái dục ngủ ngầm bên trong tựa hồ như không có gì. Thật ra nó hừng hực nóng bỏng như chất lõng bên trong lòng địa cầu. Nó chờ đủ duyên đấy!
  • * Tham danh: là muốn được người trọng vọng, quý mến. Danh là tên tuổi, là cái ta lớn lắm, không gì bằng.
    Ở một dạng khác, ta có thể hiểu tham danh là thối thân của lòng chấp ngã. Đó là khoái khen, ghét chê. Một lời khen dù không thật cũng làm ta mát lòng. Rồi ta vọng nghĩ là người được khen sẽ hơn mình nên ta phải rất hà tiện để tặng người tiếng khen. Mặt khác ta thường để lộ bề mặt, bề ngoài những gì tốt đẹp, ưu điểm hơn người và dấu biệt những gì xét ra bị đời chê trách.
    Suy cho kỷ, hóa ra cái xấu ta ôm chặt, giấu kín giống như lúa lép ta vựa chứa đầy kho lẩm, còn những lúa tốt ta thẩy ra ngoài. Nhà Phật thì trái lại, tư lương của mỗi người phải là những hạt chắc. Cặn bả của phiền não khổ đau phải được chắc lọc để loại trừ bằng giới luật và phát lồ sám-hối. Phát lồ sám hối là nói hết những tội lỗi của mình một cách chí thành, tha-thiết và quyết tâm không tái phạm, là một phương-pháp mở toang kho để cho hạt
    lép bay ra để cho Như Lai tàng không bị ô-nhiểm và rỗng rang như hư không pháp giới.
  • * Tham thực: là sự ham muốn, đòi hỏi những thưởng thức về ăn uống vượt quá mức bình thường. Có thực mới giựt được đạo là tiêu chuẩn của cái ăn bình thường là làm sao quý hồ cơ thể được tồn tại sống còn để đủ sức làm đạo. Để ăn, nhìn kỷ, chúng ta thấy con người quả đã độc ác nhứt trong vạn-loài sinh vật. Có thể nói không có một sinh vật nào mà không lọt vào bụng của con người từ rắn rít, sâu bọ, ếch nhái, đến lươn trạch, cá tôm, cua sò
    ốc hến, thú hiền, thú dữ, hai chưn, bốn chưn, rong rêu, rau củ, v.v… không sót một món nào. Con người đã lùng sụt, kiếm tìm, không một góc rừng nào mà không có vết chân người, không một hốc đá nào mà con người không đào xới khai phá. Chưa hết, ngay cả đồng loại,
    con người cũng đã từng xơi qua! Papua New Guenea, cách nay vài thập niên thôi, có những bộ-lạc đã ăn thịt người. Ngoài ra con người đã giết nhau hàng loạt để dành chiếm đất đai, tài nguyên bằng những hận thù vô duyên…
    Đạo Phật là một tôn giáo duy nhất xuất hiện ở thế gian nầy cực lực chối bỏ sự giết qua lăng kính bình đẳng trước mạng sống. Đúng vậy, một sinh vật dù lớn, dù nhỏ, ý chí cầu sanh giống nhau. Cách thế biểu lộ khác nhau nhưng ai cũng hiểu rằng khi bị giết, sinh vật đó
    không đành lòng chịu chết. Thời nay, một vài nước văn minh, tỏ ra bảo vệ loài vật, hoặc ngăn cản cấm những hành vi tàn ác đối với loài vật, lại cho đó là một hành động văn minh tiến bộ. Nói nào ngay, có còn hơn không chứ người Phật tử chân chính đã biết và thực hành điều đó từ hơn 2000 năm nay rồi.
    Nhìn vào thị trường thực phẩm, chỉ riêng thịt cá không thôi, mỗi ngày ta có thể hình dung hàng triệu sinh mạng bị giết. Ta tự hỏi mạng ở đâu có hoài để mà giết, mặt khác thì con người vẫn tiếp tục sanh sôi nẩy nở theo nhịp nhanh. Chuyện nầy đâu có gì khó hiểu đối với đạo
    Phật: Nay anh ăn tôi, mai mốt anh thế mạng lại để tôi ăn, có mất đi đâu, thành ra gà, heo vẫn có hoài để giết, người vẫn có hoài để ăn, xoay chuyển trong một vòng quay triền miên không dứt.
  • * Tham Thùy: tức là ham ngủ nghỉ. Nói chung thì loài nào cũng cần có những giấc ngủ nhứt định, đó dường như là một chu kỳ đòi hỏi bắt buộc của mọi cơ thể để giữ được độ bền tồn tại. Nhưng ham ngủ ở đây có nghĩa vượt hơn mức bình thường. Ngủ như là một hưởng thụ khoái lạc, và khoái lạc nào cũng đều đưa đến thân tâm mệt mỏi mù mờ. Cứu cánh của người tu là trí huệ, mà ngủ nhiều là một chướng duyên của sự tiến tu. Cho nên Hòa Thượng Phước Huệ có lần thức nhắc đại chúng trong tu-học bằng câu dí dỏm như vầy: “Quý vị mà ngủ nhiều quá, có ngày mất đi dấu hỏi”.
    Tóm lại, lượt qua năm món tham kể trên, ngoại trừ tham ngủ, còn lại cái tham nào cũng đều dắt ta vào những hành vi cực ác dễ dàng, đó là sự giết, là nhân của địa ngục. Đó là ý nghĩa tại sao các kinh-tạng chỉ nói ngắn gọn tham lam tương ưng với quả địa ngục.

2. Sân: là một trạng thái tâm lý biểu lộ những gì bất như ý, làm cho ta tức tối, phiền não, khó chịu, bất an. Bên trong như có một cái gì nung nấu, nóng nảy lên khiến ta phải phát tán bằng hành động, bằng sự la hét, thét gào.
Trong từng bước nó dắt ta đi lần đến những hành động xấu ác, nhẹ thì ấu đả, la mắng, mạt sát, chưởi bới. Nặng thì đập phá, giết người. Hoặc giả, sân có thể dẫn ta đến vực thẳm của sự uất ức để phải tự hủy hoại chính mình.
Đa phần những điều bất như ý cũng xuất từ sự thất bại của lòng tham, từ tài sắc danh thực thùy, từ thân khẩu ý.
Giống như tham, sân cũng mang tính hệ quả xã hội xung quanh. Phải có một động cơ tác động từ lâu ngoài.
Một viên đá bị ai đó chọi trúng vào mặt, đau quá, nổi sân, phải tìm cho ra lẽ hoặc là chọi lại, hoặc mắng cho vài câu. Dường như làm cho hắn đau đớn hoằn hoại hơn ta, ta mới chịu.
Trong khi đó máu ta vẫn chảy, ta có bớt đau hay không, chưa chắc. Nhưng rồi hắn chắc gì đã nhịn, phải đòn lại mạnh hơn, cứ thế chiến-tranh gia-tăng nhân quả trùng trùng.
Đời thường ưa cho nhỉn là nhục là ngu để người ta có cơ hội làm tới, hiếp đáp mình hơn nữa. Nhà Phật thì không làm như vậy. Đức Phật dạy: Nếu ta trúng tên, nhanh chóng rút mũi tên ra, tìm cách điều trị cho vết thương mau lành. Đó là thượng sách. Vì nếu để tâm truy cứu mũi tên nầy từ đâu, của ai, tại sao hắn bắn ta, ta đã đánh mất cơ hội tự cứu mình.
Quả của tâm sân là ngạ quỷ là quỷ đói. Tướng của loài quỷ nầy cái bụng thì thật là to để chứa toàn sân hận, cái cổ thì nhỏ như cây kim, ăn vào không được vì bị lửa giận thiêu đốt. Thành ra luôn luôn đói. Chết đi sống lại nhiều lần để mà đói và giận.
Tỳ Lưu Ly là một hoàng tử trong dòng họ Thích, nhưng mẹ của ông chỉ là một cung phi, ông luôn bị trêu chọc và kỳ thị vì không được chính thống. Tỳ lưu ly ôm hận và hẹn một ngày sẽ tiêu diệt dòng họ Thích. Cơ hội đến ông kéo hùng binh về đảo chánh, làm cỏ dòng họ Thích.
Lòng sân hận đã được thỏa mãn, nhưng ông đọa địa ngục vì nhân giết.
3. Si: là si mê, lầm lạc, là mù mờ tâm tối, là vô minh, là thiếu trí huệ. Có người khi cần phải suy nghĩ một điều gì thì đầu óc nhức bưng lên, tâm thần rối loạn, nhớ trước quên sau. Đó là phó sản của tâm si. Đứng trước bất cứ một công việc gì mà thiếu sự suy nghĩ, cân nhắc cho
cùng cạn thì trăm sự như nhắm mắt làm càng, thành bại thôi thì treo cho số phần may rủi. Đi buôn thì có lỗ lã, làm ruộng thì bất quá chỉ đủ ăn…
Vào tu, người si mê là người thiếu đức tin, nghe người nầy nói cũng có lý, nhóm kia gẫm cũng hay, chạy qua chạy lại cuống cuồng như con vụ múa rối. Tàn đời, mãn kiếp lận đận lao đao.
Quả của tâm si chính là súc sanh. Vì không có đầu óc nên suốt ngày chỉ nghĩ tới cỏ nước, mặc cho đời muốn cày, muốn cởi, muốn ăn nuốt, bán buôn mặc tình. Làm heo thì chỉ biết ăn rồi ngủ cho có nhiều thịt, nhiều mở cho thiên hạ chè chén vui say. Loài thú cư xử với nhau bằng cơ bắp mạnh được yếu thua. Tướng của súc sanh là tướng của con nợ: nợ mạng, nợ tiền, nợ đời…
Đôi lúc làm ở hảng cực quá, ta tự than thân: “Nợ nần ai mà đời ta cực như trâu, sáng trưa chiều tối chỉ thấy hảng xưởng, máy móc và mồ hôi”! Ta đang là người, chợt rơi vào cảnh thú.
Tóm lại, ngay khi ta cất tiếng khóc đầu tiên, báo hiệu rằng ta đã góp mặt vào đời, mẹ cha ta hoan-hỷ đón mừng khi soát xét ta toàn thân ngủ căn nguyên vẹn hoàn hảo. Bên cạnh đó, mọi người quên bẳng đi một điều quan-trọng rằng ta cũng có đầy đủ tham sân si, nghĩa là ta bắt đầu ném vào đời địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Một trăm năm cuộc đời, có người đã nếm đủ cả ba cảnh trên đời, có người chỉ vào tù ra khám, có người đó khổ bò lê bò càng, có người dật dờ hoang-dại như thú dữ rừng xanh… hoặc có người chưa hề nếm qua bất cứ khổ nạn nào. Ngần đó thứ gộp lại là một thế giới loài người với những cặp đối đãi: buồn vui, sướng khổ, thiện ác, giàu nghèo, họa phước, tu và không tu…
Tham sân si là chất liệu của phiền não, chắc chắn không mang lại một hạnh phúc đích thực nào dù là hạnh-phúc thế gian. Thí dụ từ lòng tham ta có được một số tiền, ngay tại đó ta vui nhưng mà lo sợ, hạnh phúc đâu phải vậy, đó là bất an. Ngay sau đó lòng tham lại dắt ta vào
một mục tiêu khác, đâu có dừng. Thành quả vừa đạt được, không kịp thưởng thức lại bắt đầu dấn vào những mạo hiểm mới v.v…
Hạnh-phúc ở đời này, gẫm cho cùng làm gì thật có. Nó là hóa thân của vọng-tưởng, bởi vì nó từ đau khổ bước ra, huống là bơi lội trong bùn-cặn tham sân si. Thí dụ: ta vừa mới được phóng thích từ nhà tù cải tạo của Cộng Sản chẳng hạn. Ta rất vui vì được tự do. Ôi, thứ tự do được ban-phát từ nhà tù! Hạnh-phục ta thấy được từ khổ nạn. Thật là khôi hài, lúc không có khổ nạn tù đày, ta có thấy hạnh-phúc của tự do không? Ta thưởng-thức tự do
từ những kinh nghiệm đau khổ tù dày!
Có nhiều câu nói đúng như thật thì bị chê là điên, là tầmthường:
“Ái da, ta sướng quá vì không mắc bệnh”. Có gì lạ đâu mà tán thán. Đợi đến khi nằm liệt gường liệt chiếu, vừa khỏi bệnh, lại nói luôn miệng: sướng quá, khoẻ quá, thoát chết rồi… Ta ham chạy theo những cái phi-thường để bắt gặp đau khổ ở cuối đường mới đành
lòng quay về. Vậy là, hạnh phúc là những gì đang nằm trong tầm tay ta ngay tại lúc vắng-mặt đau khổ.
Qua lăng kính đạo, Đức Phật thương xót chúng sanh si mê lầm lạc, lấy giả làm chơn, lấy tham sân si làm lẽ sống, hằng sống với cái vô-thường mà, hạnh phúc không bao giờ tồn tại trong những lầu đài vô thường.
Đạo là tâm bình-thường là không tham, không sân, không si vậy.
Trong tự xét soi mình để dứt trừ tâm tham thì bố-thí là một phương pháp đối trị tích cực, quý giá. Bố thí là cho ra mà vô cầu gồm tài thí, pháp thí và vô úy thí, để dứt trừ tâm bỏn xẻn là phó sản của tham lam, là nhân của bần cùng, địa ngục.
Dùng nhẫn nhục để đối trị lòng sân hận thì nghiệp chướng tiêu trừ, viễn ly khổ ách, thường hoạch kiết tường.
Giác là đối lập của mê là sáng để trừ tối. Bật một ngọn đèn lên thì ngay tại đó bóng tối ngàn năm vẫn bị xua tan.
Dứt trừ tham sân si là góp phần xây dựng an bình cho thế giới hiện đời và cũng là một sự nghiệp tâm linh vĩ đại thoát ly khỏi quỷ đạo của bánh xe nghiệp chướng sanh tử luân hồi.

================

THAM – SÂN – SI

Bà Tôn giả Pháp Tùng, Tôn giả Pháp Khả, Tôn giả Pháp Tràng, Tôn giả Tạng Nguyên, Tôn giả Tạng Trình và Tín chúng Pháp Quyên đang ngồi quanh ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ tại Tịnh Thất.

Tôn giả Pháp Quyên đứng lên đảnh lễ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, qùy sang một bên và kính cẩn thưa gởi:

– Kính Bạch Ngài, xin Ngài giảng nói cho con về vấn đề THAM – SÂN – SI.

Trong giây lát yên lặng, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, Ngài bắt đầu khai thị bằng một câu chuyện chúng tôi được nghe như vầy:

Có một thuở cách đây vào lối năm năm về trước, có một vị Sư đến viếng an và thưa gởi với tôi như vầy:

– Thưa ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, làm thế nào diệt hết tham? Làm thế nào diệt hết Sân? Làm thế nào diệt hết Si mới đắc quả? Con rất thắc mắc điều ấy, Kính Bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ giảng giải cho con được tường tận.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ nói:

– Vấn đề Tham Sân Si có 3 cách:

● Một là: Hàng Tiểu Thừa sợ Tham khởi vọng nên tận diệt Tham.

● Hai là: Hàng Đại Thừa phá mê chấp để sạch lý Tham.

● Ba là: Hàng Nhất Thừa nương vào Khởi Vọng, Nghi Chấp, Phá Chấp để tận giác tỏ tham.

Đó là ba đường lối của Tam Thừa để tu tập.

Sư cũng nên biết rằng:

Thật Giác mới diệt được Tham. Khi nào còn nghi ngờ, còn vọng đảo thì chính vẫn còn tham vọng chưa tận gốc Tham. Tham không phải diệt nó, nó mới hết Tham, chỉ Tận Giác thì nó không còn một cái Tham. Khi Tận Giác được thì muôn ngàn Vạn Pháp thảy đều không có một cái Tham.

Lúc bấy giờ nhà Sư ngớ ngẩn, phân vân vì chưa nhận được, tôi bèn giảng tiếp.

– Sư hãy nghe câu chuyện trên đây để chỉ ngọn ngành của Tham Sân Si.

Nhà Sư kính cẩn nghiêng mình thi lễ, tôi Chỉ Dụ:

Ông nghĩ xem: Có một Trưởng Giả kia có một cây cam, trái sum sê tươi đẹp ngay trước cổng. Một Đạo Sư nhìn thấy cây cam tươi đẹp, thích thú đến thưa với Trưởng Giả để xin cây cam ấy về trồng trước sân Chùa.

Vị Trưởng Giả trầm ngâm nói với Đạo Sư. Tôi không thể cho Đạo Sư một cây cam mà Đạo Sư cũng không thể bứng lấy cây cam này đem về trồng trước sân Chùa mà nó sống đặng, Nếu như Đạo Sư muốn có cam thì tôi tặng cho một quả để Đạo Sư gieo trồng sẽ đặng 20 cây cam.

Lúc bấy giờ Đạo Sư không hiểu sanh Tâm sân hận, đó cũng gọi là Sân, rồi oán trách Trưởng Giả nhỏ nhen không cho mình một cây cam mà cho mình một trái cam, đó cũng gọi là Si. Từ chỗ Si Mê mà có Tâm Sân Hận, bởi chỗ lầm mà vướng chịu Tham Lam.

Sư cũng nên biết rằng: Nếu Đạo Sĩ mà biết được một quả cam có thể ương trồng thành 20 cây cam thì Đạo Sĩ kia có xử dụng 20 lần tham nhưng cách Thật-Biết thì không có một cái Tham. Khi đã không có Tham thì nào có Sân Hận, lúc đã không có Sân Hận thì nào có Si Mê oán trách. Gốc THAM SÂN SI do Vọng Đảo lầm lẫn chưa biết, khi không vọng thì liền chẳng tham, mà lúc có Tham thì có sanh vọng. Cho nên Phật thường nói các ông Tham Vọng, Điên Đảo, Si Mê chướng đối trở thành vạn Pháp muôn trùng, hóa thành Vô Minh Pháp Giới. Ta thật biết tỷ mỉ mà còn biết hơn thế nữa. TA trơn liền chẳng có Tập Khí, khi không có tập khí thì nào có khởi sanh, khởi diệt. Đã không khởi sanh, khởi diệt thì Tâm Bình Đẳng dung Thông. Gốc của Tham Sân Si bởi do vọng đảo mà thành gọi là Tham vọng.

Lúc bấy giờ vị Sư mừng rỡ tán thán, nghiêng mình khen tặng Phật vi diệu khó nghĩ bàn. Đến đây ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ dứt lời.

Pháp Quyên cùng Tứ Chúng đồng đứng lên đảnh lễ vì đã được ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ khai thị về THAM SÂN SI nguồn gốc chưa trọn Giác.

Nguồn: anhbalap

Điều hòa dục vọng: Rũ bỏ tham – sân – si

Thế kỷ 20 đã xuất hiện ông hoàng của lý thuyết dục tính, đó là Freud. Ông phát hiện ra năng lực tình dục của con người, còn gọi là Libido. Và ông cũng phát hiện ra “Mặc cảm dồn nén tình dục” của con người. Đó là mặc cảm sâu xa nhất, mạnh nhất, tiềm tàng nhất mang từ trong vô thức. Để hình dung, chúng ta hãy thử tưởng tượng thế này: quả tên lửa phóng được lên trời là bởi nó mang sức dồn ép từ trong buồng đốt, sức dồn ép đó càng mạnh thì biến thành áp xuất càng lớn, càng đẩy quả tên lửa vượt khỏi sức hút trái đất để bay lên trời.

Tại sao chỉ có con người có nền văn minh? Chắc hẳn nhờ động năng sinh dục bị dồn nén mà con người bốc thẳng bay vọt được lên nền văn minh. Loài vật không có được sự dồn nén này bởi vì chúng không mảnh vải che thân, chúng thoải mái ngắm nghía nhau, thích lên còn chạy thẳng đến hà hít nhau đúng mục tiêu liền, và cẩn giải tỏa ham muốn thì làm liền, vì thế đời sống sinh dục của chúng không hề bị kiềm tỏa dồn ép, được tí nào chúng giải tỏa ngay tí ấy, làm sao còn tích thành quặng dồn nén được ?! Chính vậy mà chúng không thể có áp lực để bay đến văn minh.

Loài người trái lại, nào quần áo, nào văn hóa, nào truyền thống, nào cả pháp luật vào cuộc bắt người ta phải ăn vận đúng thuần phong mỹ tục, từ đó tạo ra vô vàn dồn nén, bằng chứng của các cuộc xì hơi như nào vẽ tục, xem ảnh khỏa thân, rồi đóng kín cửa quay phim mát… Nhưng chính thế, đó là sự tạo ra lò cao áp để con người có thể bay vọt đến đẳng cấp văn minh. Bằng chứng là, dân tộc nào có sự kiềm chế càng cao thì nền văn minh càng cao, còn dân tộc nào ăn chơi xả láng vui đâu chầu đấy, sống tùy tiện, tháo cởi càng nhiều thì trình độ văn minh càng thấp.

Con người có một thân xác! Con chim cũng có thân xác! Nhưng những con chim có thể cất cánh thẳng đứng lên trời với tốc độ đập cánh lên đến hàng nghìn lần trên một giây. Tại sao có sự khác nhau lớn đến vậy? Tại vì dục vọng của loài chim rất thấp, có đến hơn 40% các loài chim sống chung thủy, chúng không bao giờ biết đến phương ngôn “một của lạ bằng tạ của quen”.

Tất cả các động vật có vú bao gồm cả con người đều thích lang chạ. Có nghĩa là nó muốn dục vọng sinh dục xảy ra càng nhiều càng ít “ăn một lại muốn ăn hai/ ăn ba ăn bốn lại nài ăn thêm”.

Nhưng con người không chỉ đơn thuần là loài có vú chỉ thích chung chạ, mà con người cũng là loài chim, muốn chung thủy như loài chim vì nó muốn xây dựng gia đình như tổ ấm của bầy chim. Và con người còn đứng trước một lựa chọn mang cứu cánh và lý tưởng lớn hơn nhiều, đó là: xây dựng thế giới văn minh là điều kiện sống còn của con người. Điều này mới đây đã được Liên Hiệp Quốc xác nhận: Ngày nay con người không sống hạnh phúc đơn giản như ngày xưa nữa ( ngày xưa chỉ no cơm, ấm áo, dựng vợ gả chồng, nhà to cửa rộng), mà ngày nay con người muốn sống hạnh phúc phải bao hàm tiến bộ.

Muốn chọn tiến bộ và văn minh, rõ ràng con người phải tiến hành hòa giải với thứ dục vọng gào thét mãnh liệt nhất của mình. Bởi vì nếu không hòa giải có nghĩa là đàn áp dục vọng thì nó sẽ phản kháng! Còn nếu chiều chuộng dục vọng thì nó sẽ kéo ta xuống đầm lầy của gối chăn buông thả còn lâu mới thấy chân trời của văn minh. Vậy thì ta chỉ còn cách biết hòa giải với chính dục vọng của mình. Đó cũng là cách giải quyết chiến tranh với những lò lửa tham, sân , si một cách hòa bình nhất.

(Sưu tầm)

Em đặt viên gạch trước đã ạ.

HIhi, đừng để nó mọc rêu nha em

Theo tôi nguồn gốc của mọi khổ là do vô mình.

Nên tìm hiểu từ gốc rễ của vấn đề, để thoát khỏi vô minh cần phải Học và Hành theo sự chỉ dẫn của Đức Phật:

- Bài kinh giảng đầu tiên của ngài là Tứ Diệu Đế:

http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A9_di%E1%BB%87u_%C4%91%E1%BA%BF

- Bát Chánh Đạo:

http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1t_ch%C3%ADnh_%C4%91%E1%BA%A1o

Đức Phật có dạy:

"Giáo lý của ta không phải đến để mà tin, mà đến để thực hành"

Namo A Di Đà Phật!

Vâng, Si là mê muội, chính là vô minh bác nhỉ

Ví dụ, nhiều người vẫn nghĩ ăn chay là tu Phật...

Vâng. Trong Thất Tình Lục Dục thì Vô Minh ( Ngu si)  là khó nhận biết nhất.

Lúc ta nổi sân hận (nóng giận, thù hằn)  thì sẽ có thể nhận ra vì nó có biểu hiện  ( tức tối, giận dữ, mặt nóng..) còn cái nghiệp vô minh nó nổi lên không ai có thể biết được. 

Không ai có thể hằng ngày kiểm điểm xem mình vô minh ở chỗ nào mà có thể biết được.

Không ai Sám hối: Tôi vừa mới vô minh, Nghiệp vô minh của tôi vừa nổi lên. Vì vô minh là gốc của tất cả là nguyên nhân của luân hồi trong sáu cõi ( Trời, A tu la, Người, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc sinh)

Vô mình thâm chí bao trùm hết kiếp này đến kiếp khác ( trong vô lượng kiếp).

Vô minh là nguyên nhân của Khổ.

Trong việc học Phật thì việc tu quan trọng hơn việc ăn.

Tuy nhiên ăn chay theo khoa học vừa đảm bảo sức khỏe vừa tích lũy được công đức..

Nếu không tìm hiểu kỹ mà đã ăn chay trường thì ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.

Các cụ có câu: "Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối"

Thực ra ăn cũng cần phải học, và đồng thời cũng là một pháp tu đấy chứ ạ.

Việc học Phật ban đầu là Tam Quy Ngũ giới, thực hành Sáu hạnh Ba la mật ( Bát Chánh Đạo)

Tam Quy là Quy Y Phật, Quy Y  Pháp,  Quy Y Tăng.

Ngũ giới :

cố gắng hạn chế Việc: Sát, Đạo, Dâm, Vọng, Tửu.

( Một lời nói tào lao, vô ích còn tệ hại hơn cả việc dùng Ngũ Tịnh nhục ấy chứ)

Sáu hạnh Ba la mật là:

1.Bố thí

2. Trì giới ( Giữ giới kiên trì 24/24)

3.Nhẫn Nhục.

4.Tinh tấn

5.Thiền Định.

6.Trí Huệ.

 (Không thấy nói đến ăn)

Trong Hạnh Bố thí thì bố thí Pháp là đứng đầu, Bố thí sự không sợ hãi (Vô Úy Thí) là thứ hai,bố thí Tịnh tài ( tiền của) là hạ đẳng

Vâng, trong ngũ giới chỉ nói Sát (sinh) chứ không nói ăn gì, ăn gì cũng được miễn là đừng chấp vào "phải ăn gì", "chỉ ăn món gì",... bác nhỉ.

Bác có thể giải thích thêm về bố thí Phápbố thí sự không sợ hãi?

 Thưa bác!

Tại sao trong 6 hạnh Ba la mật, Bố thì lại đứng đầu? Có lé theo tôi hiểu là ai không có hạnh bố thí thì rất khó có thể nhận ra được các hạnh khác.

Trong bố thì gồm: Pháp thí, Vô Úy thí, Tài thí.

Trong bản đồ mười Pháp giới có treo tại các chù có trích 4 câu trong Kinh Pháp cú như sau:

"Pháp thí thắng mọi thí

Pháp vị thắng mọi vị.

Pháp hỷ thắng mọi hỷ.

Ái diệt hết khổ đau"

Vậy muốn có Pháp để thí thì ta cần phải thực hành Pháp.

Tuy nhiên để hiểu Pháp là gì ta nên xem có mấy lớp nghĩa sau:

- Pháp là sự thật cao cả do Đức Phật Tuyên thuyết: Kinh, kệ, Chân Ngôn hiển và mật.

- Pháp là mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ vô cùng vô tận. 

Xét về mặt tương đối, trong cõi Nhị Nguyên này cái gì cũng có hai mặt: Tốt- Xấu, Thiện - Ác nên Pháp cũng thế.

Xét về tuyệt đối thì các Pháp vô ngã ( Không có tự tính mà tùy duyên sinh diệt theo Luật Nhân -Quả)

Chính vì thế một người lương thiện yêu lẽ phải là đã có thể bố thí Pháp, vì Pháp là mầm Thiện đã có sắn trong Tâm họ:

- Một ví dụ đơn giản về sự bố thí Pháp như sau:

a/ Thực hành Pháp và hồi hướng về mười phương Pháp giới chúng sinh, Nguyện con và tất thảy chúng sinh sớm trọn thành Phật Tuệ.

b/ Chẳng hạn chị hàng xóm ở quê tôi cái nhau với chồng có điện thoại cho tôi kể lể tâm sự. Nếu tôi khong có Tâm thí Pháp tôi sẽ nói: Chị ơi cái này là việc riêng của anh chị tôi khong nên tham gia"

 Nếu tôi có tâm Thí Pháp, tôi sẽ nói:

Nếu Anh chị vẫn ton trong nhau, em xin anh chị cho em gặp một tiếng để em phân giải.

Và tôi có hẹn phải bỏ thời gian tiền bạc về quê với lòng tin trong sáng: có thể giúp được họ một cái gì đó"

Và quả đúng như vậy sau một hồi nghe hai bên nói, tôi dùng sự hiểu biết của mình phân giải như sau: Anh sai 7 phần chỉ đúng có 3. Chị đúng 7 phần nhưng sai 3 phần.

Nếu vì gia đình bỉ qua tất cả sửa lầm bớt lỗi..

Và họ hiểu ra hàn gắn gia đình. Đó cũng là bố thí Pháp gọi là bố thí Pháp thế gian vì các pháp này rất cần ở cõi thế gian.

 Còn về Vô Úy thí thì cúng vậy: Vô Úy là trạng thái không sợ hâĩ:

Khi Ta tu tập theo Chánh Pháp ta sẽ có trạng thái không sợ hãi và ta dùng nó để động viên mọi người vượt qua cái sợ hãi cuẩ họ ( cùng lắm thì ta sợ hãi ít động viên người sợ  hãi nhiều cúng được vậy)

 Ví dụ Một đứa trẻ bị người ta bắt nạt, ta có thể giúp đứa trẻ vượt qua cảm giác sợ hãi bằng một cách nào đó.

 Tóm lại ta làm cho người khác bớt sợ hãi mà vượt qua hoàn cảnh của họ và chỉ họ đi theo con đường đúng.

 Ví dụ: Ta thấy có kẻ cầm dao chặt chém túi bụi ngoài đường, ta liền báo 113 và đông viên người đi đường đang sợ hãi như sau: Bác ơi bác đừng sơ: Bác hãy tâm niệm Nhân lành quả lành . Bác cứ làm người lương thiện thì sẽ không sợ hãi bác ạ....

 Ví dụ con người ta sợ nhất là: Sinh, Lão, Bệnh, Tử, sợ tai nạn đi đường... vv mình nên nói với người ta rằng đó là quy luật tất yếu của tất cả những ai sinh ra không ai tránh khỏi. Vạn Pháp vô thường. Tuy vây có luật nhân quả. Nếu là nhân do mình gây ra thì quả tất gánh  không cchạy đâu cho thoát. Còn không phải nhân do mình gây ra thì tất không phải gánh lo gì..vv tóm lại nương theo giáo lý Nhà Phật làm cho người ta bớt sợ hãi.

Tuy nhiên muốn có  trạng thái không sợ hãi thật sự thì ta phải tu theo Đức Phật cho đến khi có kết quả nhất định: Tin và Hiểu luật Nhân Quả, Thực hành theo Phật Pháp đã được chỉ dạy. Ví dụ

Cảm ơn bác đã giải thích ;)
Trên NHÀ nhiều người sợ thảo luận lắm bác ạ. Bác giúp em một tay nhé :)
NHÀ mình dùng cụm từ "chia sẻ" với ý gần như bác giải thích ở trên...

RSS

Hiểu về trái timNếu bạn chưa biết cách sử dụng chức năng nào trên NHÀ, bấm vào đây...

Hỗ trợ trực tuyến (Mr Hải CB34) Bạn hãy login Yahoo! Messenger trước khi bấm vào đây để trao đổi
Visitors:Cựu SVTS

Hoạt động mới nhất

Profile IconDương văn thành, Hoàng Anh Nam and Nguyen van Huy joined NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
5 giờ trước
bùi mỹ phương đã trả lời thảo luận 'TUYEN DỤNG LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DOCIFISH'
"hạn cuối nộp hồ sơ tuyển dung là khi nào vậy c?"
18 giờ trước
bùi mỹ phương liked Nguyen Thi Tuyet Muoi's discussion TUYEN DỤNG LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DOCIFISH
18 giờ trước
bùi mỹ phương đã trả lời thảo luận 'tìm chỗ làm'
"bây giờ còn tuyển ko c? e tới cuối tháng 6 mới ra trường lận ..........."
19 giờ trước
bùi mỹ phương đã trả lời thảo luận 'tìm chỗ làm'
"quê e ở miền tây nên định xin về đó làm cho gần nhà…"
19 giờ trước
Profile IconLê Thu and Nguyễn Ngọc Đạt joined NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Thứ Tư
Nguyễn Ngọc Đạt đã trả lời thảo luận 'Yêu cầu tài liệu - sách tham khảo'
"Dạ em chào các bác ạ..em sinh viên năm cuối của Bách Khoa…"
Thứ Ba
Xetnghiem Huyethoc đã trả lời thảo luận 'Xây dựng phòng Lab'
"bạn để lại số diện thoại mình sẽ liên lạc với bạn bên mình chuyên…"
Thứ Ba
Võ Hoàn Hải đã cập nhật profile
Thứ Hai
Profile IconNguyễn Văn Cầu and vy joined NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Thứ Hai
Lê Văn Hiển shared their group on Facebook
Thứ Hai
Lê Văn Hiển shared their group on Google +1
Thứ Hai
Thảo luận do vy đăng

Xây dựng phòng Lab

Chào các Anh/ chị!hiện em đang cần xây dựng phòng lab chuyên kiểm histamine (kiểm định lượng), ko…Chi tiết...
Thứ Hai
Profile IconLương Thị Ngọc Yến, nguyễn Phúc, Thái học and 2 more joined NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Apr 11
Phan Dũng Sỹ posted a blog post

Cuộc đời kỹ sư

Mếm chào các anh chị em cựu sinh viên thủy sản!Thấm thoát mà đã kết thúc xong khóa học, bây giờ mỗi…Chi tiết...
Apr 11
Phan Dũng Sỹ joined a group
Thumbnail

CHẾ TẠO 42

42 CHẾ TẠO - TẬP THỂ ĐOÀN KẾT !
Apr 11
Phạm Thanh Tùng đã cập nhật profile
Apr 9
Trần Văn Dũng đã cập nhật profile
Apr 9
nguyễn hữu trường mới đổi xì-ta-tús
"xin hỏi các anh chị có ai hiểu lí luận về đánh bắt và khai thác thủy sản không ạ?:D"
Apr 8
Profile Iconnguyễn thị nhung, Võ Thành Bảo Lộc and Văn nhăm joined NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Apr 7

© 2014   NHÀ mình do Mr. Bùi Văn Hải đặt viên gạch đầu tiên (vào ngày 10/03/2009) và các Anh Chị Em cùng chung tay xây dựng, gìn giữ, và phát triển. NHÀ phát triển tới đâu, như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào sự chia sẻ, thảo luận ngày ngày của ACE.

Từ chối trách nhiệm (Disclaimer)
Tất cả các thông tin trên trang web này chỉ nhằm mục đích chia sẻ trải nghiệm và quan điểm cá nhân, người đăng và sử dụng thông tin đó phải tự chịu trách nhiệm về tất cả những gì liên quan có thể xảy ra.

Tạo phù hiệu  |  Báo cho quản trị  |  Terms of Service

Follow Us Follow Us Smilies
Mời xem: Tại sao PLC bị đàn áp ở TQ?
Mời xem: Điều kiện để làm Admin và duy trì NHÀ CSV