Mời ACE sưu tầm hình ảnh về biển, đảo của Tổ quốc và đăng lên đây ạ.

Mời cả NHÀ góp "đá" xây Trường Sa tại địa chỉ này.



Bản đồ bờ biển Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa 
năm 1747 (Nguồn: www.thuvienkhoahoc.com)

 

Tags: Hoàng Sa, Trường Sa, Tổ Quốc, biển, góp đá, đảo

Views: 5991

Reply to This

Replies to This Discussion

Biển đảo Việt Nam

http://inlinethumb59.webshots.com/5050/2761130480054089462S600x600Q85.jpg

1. Khái quát về biển đảo nước ta 

Nước ta giáp với biển Đông ở hai phía Đông và Nam. Vùng biển Việt Nam là một phần biển Đông. 

- Bờ biển dài 3.260km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Như vậy cứ l00 km2 thì có l km bờ biển (trung bình của thế giới là 600kmđất liền/1km bờ biển). 
- Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km (gấp 3 diện tích đất liền: l triệu km2/330.000km2). 

- Trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và 2.577 đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển. 

- Có vị trí chiến lược quan trọng: nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông. Giao lưu quốc tế thuận lợi, phát triển ngành biển. 

- Có khí hậu biển là vùng nhiệt đới tạo điều kiện cho sinh vật biển phát triển, tồn tại tốt. 

- Có tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa dạng, quý hiếm. 

* Vùng biển và hải đảo nước ta có vị trí chiến lược hết sức to lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, có liên quan trực tiếp đến sự phồn vinh của đất nước, đến văn minh và hạnh phúc của nhân dân.


2. Tiềm năng và tầm quan trọng của biển 

+ Về kinh tế. 

- Hải sản: Ở vùng biển nước ta đến nay có khoảng 2.040 loài cá gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có giá trị kinh tế cao khoảng 110 loài. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 3 triệu tấn/năm.
Rong biển: Trên biển nước ta có trên 600 loài rong biển là nguồn thức ăn có dinh dưỡng cao và là nguồn dược liệu phong phú. 

- Khoáng sản: Dưới đáy biển nước ta có nhiều khoáng sản quý như: thiếc, ti tan, đi-ri-con, thạch anh, nhôm, sắt, măng gan, đồng, kền và các loại đất hiếm. Muối ăn chứa trong nước biển bình quân 3.500gr/m2

- Dầu mỏ: Vùng biển Việt Nam rộng hơn l triệu km2 trong đó có 500.000km2 nằm trong vùng triển vọng có dầu khí. Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm 25% trrữ lượng dầu dưới đáy biển Đông. Có thể khai thác từ 30-40 ngàn thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít) khoảng 20 triệu tấn/năm. Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu. Ngoài dầu Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khoảng ba nghìn tỷ m3/năm. 
- Giao thông: Bờ biển nước ta chạy dọc từ Bắc tới Nam theo chiều dài đất nước, với 3.260km bờ biển có nhiều cảng, vịnh… rất thuận liện cho giao thông, đánh bắt, hải sản. Nằm liên trục giao thông đường biển quốc tế từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương, trong tương lai sẽ là tiềm năng cho ngành kinh tế dịch vụ trên biển (đóng tàu, sửa chữa tàu, tìm kiếm cứu trợ, thông tin dẫn dắt...). 

- Du lịch: Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vụng, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, là tiềm năng du lịch lớn của nước ta. 

+ Quốc phòng, an ninh: 

Biển nước ta nằm trên đường giao thông quốc tế từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, vì vậy có vị trí quân sự hết sức quan trọng. Đứng trên vùng biển-đảo của nước ta có thể quan sát khống chế đường giao thông huyết mạch ở Đông Nam Á. 

Biển-đảo nước ta có tầm quan trọng hết sức lớn lao đối với sự phát triển trường tồn của đất nước.


3. Đảo và quần đảo nước ta và tầm quan trọng của nó 

- Đảo và quần đảo: 

Vùng biển nước ta có trên 4000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó: 

+ Vùng biển Đông Bắc có trên 3.000 đảo. 

+ Bắc Trung Bộ trên 40 đảo. 

+ Còn lại ở vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biển Tây Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

- Căn cứ vào vị trí chiến lược và các điều kiện địa lý kinh tế, dân cư, thường người ta chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:

+ Hệ thống đảo tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta. Đó là các đảo, quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ...

+ Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội. Đó là các đảo như: Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc. 

+ Các đảo ven bờ gần có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta. Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang)...

+ Việt Nam có hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.

- Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta. 

4. Vịnh Bắc Bộ 

- Nằm ở Tây Bắc Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam và Trung Quốc. 

- Diện tích khoảng 126.250km2, chiều ngang, nơi rộng nhất khoảng 310 km và nơi hẹp nhất khoảng 220km. Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ ký tháng 12/2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc đã xác định biên giới lãnh hải của hai nước ở ngoài cửa sông Bắc Luân, cũng như giới hạn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta và Trung Quốc ở trong Vịnh Bắc Bộ. Về diện tích tổng thể theo mực nước trung bình thì ta được 53,23%, Trung Quốc được 46,77% diện tích Vịnh.

- Là vịnh nông, nơi sâu nhất khoảng l00m. 

Thềm lục địa Việt Nam khá rộng, độ dốc thoải và có một lòng máng sâu trên 70m gần đảo Hải Nam của Trung Quốc. 

-Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 3.000 đảo lớn nhỏ, đảo Bạch Long Vĩ diện tích 2,5km2 cách đất liền Việt Nam 110km, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 130km. Có nhiều nguồn lợi hải sản và tiềm năng dầu khí (trữ lượng cá của Việt Nam khoảng 44 vạn tấn). 

5. Vịnh Thái Lan 

- Nằm ở Tây Nam biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaixia

- Diện tích khoảng 293.000km2, chu vi khoảng 2.300km. 

- Là một vịnh nông, nơi sâu nhất khoảng 80 mét. 

- Đảo Phú Quốc trong Vịnh là đảo lớn nhất của Việt Nam, diện tích 567km2

- Có nhiều nguồn lợi hải sản (trữ lượng cá của Việt Nam khoảng 51 vạn tấn). 

Có tiềm năng dầu khí lớn: Việt Nam đã khai thác và hợp tác khai thác vùng chồng lấn với Malaixia.

6. Vài nét về Hoàng Sa - Trường Sa

 

- Quần đảo Hoàng Sa



 Quần đảo Hoàng Sa là một quần đảo san hô nằm giữa Biển Đông. Từ lâu Hoàng Sa cũng như Trường Sa đã thuộc lãnh thổ Việt Nam với tên Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa.

 Quần đảo Hoàng Sa nằm trong kinh độ 1110 ­­ đến 1130 Đông, vĩ độ 15045’; đến 17015’, ngang với vĩ độ Huế và Đà Nẵng. Hoàng Sa nằm ở phía Bắc Biển Đông, trên đường biển quốc tế từ Châu Âu đến các nước phía Đông và Đông Bắc Á và giữa các nước Châu Á với nhau.

 

Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo trong vùng biển rộng khoảng 15.000 km2 chia ra làm 2 nhóm: Nhóm phía Đông có tên là An Vĩnh, gồm khoảng 12 đảo nhỏ và một số đảo san hô, Trong đó có 2 đảo lớn là Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng 1,5km2 ; nhóm phía Tây gồm nhiều đảo xếp vòng cung nên gọi là nhóm lưỡi liềm, trong đó có các đảo Hoàng Sa (diện tích 1km2) Quang Ảnh, Hữu Nhật, Quang Hoà, Duy Mộng, Chim Yến, Tri Tôn…Riêng đảo Hoàng Sa có trạm khí tượng của Việt Nam hoạt động từ năm 1938 đến 1947, được tổ chức khí tượng quốc tế đặt số hiệu 48-860 (số 48 chỉ khu vực Việt Nam)



Dưới triều Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Nam. Năm 1938 thuộc tỉnh Thừa Thiên. Năm 1961 gọi là xã Định Hải, quận Hoà Vang tỉnh Quảng Nam. Năm 1982 chính phủ ta quyết định thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Nay trở thành huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng.

 

Năm 1956 Trung Quốc chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa. Tháng 1/1974, trong lúc quân và dân ta đang tập trung sức tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trung Quốc đã đem quân ra đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

 

- Quần đảo Trường Sa

 

Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 200 hải lý về phía Nam. Quần đảo Trường Sa bao gồm hơn 100 đảo nhỏ, bãi ngầm, bãi san hô nằm trải rộng trong một vùng biển khoảng 180.000 km2 với chiều Đông Tây là 325 hải lý, chiều Bắc Nam là 274 hải lý, từ vĩ độ 6030’ Bắc đến 12Bắc và từ kinh độ 111030’ Đông đến 117020’ Đông, cách Cam Ranh 248 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 595 hải lý.

 

Quần đảo Trường Sa được chia làm 10 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bãi Vũng Mây, Bãi Hải Sâm, Bãi Lim, Song Tử Tây là đảo cao nhất (cao 4 đến 6 mét lúc triều xuống); Ba Đình là đảo rộng nhất (0,6km2) trong quần đảo.

 

Điều kiện tự nhiên và khí hậu vùng này rất khắc nghiệt: nắng gió, giông bão thường xuyên, thiếu nước ngọt, nhiều đảo không có cây. Quần đảo Trường Sa không chỉ là vị trí quân sự chiến lược án ngữ phía Đông Nam nước ta, bảo vệ vùng biển và hải đảo ven bờ, mà còn là một vùng có trữ lượng lớn phốt phát khá lớn, có nhiều loại động thực vật và có thể có nhiều dầu.

Việt Nam đang có mặt và bảo vệ 21 đảo và bãi đá ngầm trên quần đảo Trường Sa.
Theo Những điều cần biết về biển - đảo Việt Nam

TƯ LIỆU BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

Viết về đảo Lý Sơn

(ĐCSVN) - Nằm về phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liền khoảng 15 hải lý ( khoảng 24 km). Huyện đảo Lý Sơn giữ một vị trí chiến lược trên vùng biển Đông Việt Nam, tiềm năng du lịch và những tư liệu quý về Hoàng Sa. Xem tiếp

Cồn Cỏ: Hòn ngọc giữa biển xanh

(ĐCSVN) - Người ta kể rằng Cồn Cỏ là tâm phật từ bi hạ xuống làm nơi tránh mưa bão cho ngư dân và tàu thuyền những khi biển Tây, biển Bắc dồn dập sóng vỗ, thì Đảo là nơi che chở, neo đậu cập bến của thuyền chài. Xem tiếp

Chùa Thạnh Lâm trên đảo Phú Quý

(ĐCSVN) - Chùa Thạnh Lâm tọa lạc tại xã Ngũ Phụng huyện đảo Phú Quý, Bình Thuận, được tạo dựng vào cuối thế kỷ XVIII. Tại chùa còn lưu giữ trên 30 tượng Phật cổ với nhiều chất liệu: đồng, gỗ, đất nung. Trải qua hơn 200 năm tồn tại, chùa Thạnh Lâm trở thành nơi sinh hoạt tôn giáo không thể thiếu của nhiều thế hệ người dân trên đảo Phú Quý.  Xem tiếp

Chính thức bàn giao tài liệu quý liên quan đến Quần đảo Hoàng Sa cho Bộ Ngoại giao

Chiều 10-4, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức lễ bàn giao tài liệu quý liên quan đến quần đảo Hoàng Sa cho đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam. Tài liệu được viết bằng chữ Hán, gồm 4 trang giấy dó, khổ 24 cm x 35,5 cm tương đối còn nguyên vẹn. Văn bản này được ban hành ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (tức năm Giáp Ngọ-1834). Xem tiếp

Bộ đội Biên phòng Bà Rịa – Vũng Tàu: Chung tay bảo vệ biên giới biển, đảo

( ĐCSVN)- 5 năm qua, Đảng ủy BĐBP tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã không ngừng tăng cường công tác lãnh đạo, đổi mới công tác vận động quần chúng (VĐQC), góp phần đẩy mạnh các phong trào quần chúng bảo vệ an ninh biên giới quốc gia, xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh. Xem tiếp

Nha Trang: Khu nghỉ mát Hòn Tằm đi vào hoạt động

( ĐCSVN)- Với diện tích 5,4 ha, Hòn Tằm Resort nằm ngay trên đảo Hòn Tằm (tổng diện tích 110 ha), có tổng vốn đầu tư 446 tỷ đồng đã chính thức khai trương giai đoạn 1 và đi vào hoạt động. Xem tiếp

Đến với biển Khe Hai

(ĐCSVN) - Bãi biển Khe Hai thuộc xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi, nằm cách quốc lộ 1A khoảng 3km về phía đông, là một trong số những bãi biển đẹp của vùng duyên hải miền Trung. Xem tiếp

Thơ mộng vẻ đẹp biển Đại Lãnh

(ĐCSVN)- Đại Lãnh thuộc địa phận huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, nằm bên quốc lộ 1A, cách Nha Trang khoảng 80km về phía bắc, là một trong những bãi biển đẹp nhất miền Trung với dải cát dài trắng mịn và những hàng dương xanh chạy dài. Nằm ở toạ độ địa lý 12o53'48" độ vĩ Bắc và 109o27'06" độ kinh Đông, nơi đây được xác định là điểm cực đông trên đất liền đón ánh bình minh đầu tiên của Việt Nam. Xem tiếp

Biển và hải đảo Việt Nam

(ĐCSVN) - Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là "Thế kỷ của đại dương", bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới. Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nước lớn đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển. Riêng trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, các nước, nhất là các nước lớn đều có thiên hướng bảo tồn tài nguyên trên đất liền và vùng biển của mình, vươn ra điều tra, khai thác tài nguyên trên đại dương. Xem tiếp

Chủ quyền của Việt Nam trên hai đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

(ĐCSVN) - Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là hai quần đảo san hô nằm ở giữa Biển Đông. Trong nhiều thế kỷ trước đây hai quần đảo thường được gọi dưới tên chung là Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Đại Hoàng Sa, Đại Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa v.v. Các nhà hàng hải và truyền giáo phương Tây (Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp) gọi dưới các tên Paracels, Parcels hoặc Pracels. Xem tiếp

Phát triển kinh tế biển của Việt Nam: thực trạng và triển vọng

(ĐCSVN) -  Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn và thuộc loại quan trọng nhất của khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như của thế giới. Từ bao đời nay, vùng biển, ven biển và hải đảo đã gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc Việt Nam. Theo Tuyên bố ngày 12/7/1977 của Chính phủ Việt Nam và Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 thì nước Việt Nam có một vùng biển rộng khoảng 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền. Vùng biển và ven biển nước ta có vị trí hết sức quan trọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh - quốc phòng nên từ lâu Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến phát triển kinh tế biển, vùng ven biển và hải đảo. Xem tiếp

Một số nhân tố mới về biển

(ĐCSVN) - Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVII khẳng định phương hướng phát triển kinh tế thuỷ sản giai đoạn 2005 - 2010 là: Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triểnkinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Phát triển hệ thống cảng biển, vận tải biển, khai thác và chế biến dầu khí, hải sản, dịch vụ biển. Đẩy nhanh công nghiệp khai thác, chế biến hải sản. Xem tiếp

Hoàn thành cơ sở dữ liệu biển quốc gia

(ĐCSVN)- Nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam đã hoàn thành đề tài Điều tra cơ bản và nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển nhằm cung cấp một cơ sở dữ liệu biển tương đối đầy đủ và thống nhất, chuẩn bị cho việc thành lập Trung tâm dữ liệu biển Quốc gia trong tương lai gần. Xem tiếp

Tăng cường phát triển kinh tế quốc phòng trên biển

Hiện nay, Quân chủng Hải quân là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển đảo và thềm lục địa của Tổ quốc. Quân chủng đã tích cực và chủ động tổ chức phát triển các doanh nghiệp kinh tế gắn với công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo. Xem tiếp

Vai trò của kinh tế biển đối với phát triển công nghiệp

Vai trò của phát triển kinh tế biển trong phát triển công nghiệp thể hiện rõ nhất là phát triển giao thông vận tảI, dầu khí, điện lực và khai thác khoảng sản. Xem tiếp

Trà Vinh tăng cường tuyên truyền về biển đảo

Ngày 27/9/2006, Tỉnh ủy Trà Vinh kết hợp với Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam tổ chức hội nghị bàn về công tác nâng cao chất lượng, nội dung tuyên truyền về biển đảo trên địa bàn tỉnh. Xem tiếp

Ngoài ấy, Trường Sa quê ta!

Sau 2 ngày đêm lênh đênh trên biển, xa xa phía Đông chân trời, một hòn đảo nhô lên. Chiếc tàu như muốn vỡ tung bởi những tiếng thét: “A…! Trường Sa…! Đến rồi…!”. Xem tiếp

Quản lý và khai thác các rạn san hô phát triển du lịch ở Việt Nam

San hô là hệ sinh thái có sự đa dạng sinh học phong phú nhất ở vùng biển. Theo tính toán, toàn bộ các rạn san hô chỉ chiếm chưa đến 1% diện tích đại dương nhưng lại là nơi sinh sống của 25% các loài sinh vật biển trên toàn thế giới. Xem tiếp

Về biển miền Trung tìm dấu Chăm

Những bãi biển dọc duyên hải miền Trung xưa đề huề thuyền ghe Chăm nay có khi chỉ còn lại những làng mạc lặng lẽ. Nhưng lần tìm và tái hiện không gian Chăm ở vùng ven biển như một cách chống lại sự bào mòn lạnh lùng của lớp sóng thời gian. Xem tiếp

Một số thông tin về tuyên bố cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC)

Xuất phát từ nhận thức sự cần thiết phải thúc đẩy một môi trường hoà bình, thân thiện, và hoà hợp ở Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc cho việc tăng cường hoà bình, ổn định, phát triển kinh tế và thịnh vượng trong khu vực, ngày 4/11/2002, trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ VIII tại Phnôm Pênh (Campuchia), ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố cách ứng xử của các bên ở Biển Đông nhằm cam kết thúc đẩy những nguyên tắc và mục tiêu của Tuyên bố chung 1997 giữa ASEAN - Trung Quốc và mong muốn tăng cường những điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết một cách hoà bình và lâu dài những bất đồng, tranh chấp giữa các nước có liên quan. Xem tiếp

Khánh Hoà: Ký kết 10 nội dung tuyên truyền về biển đảo

Ngày 17/8, tỉnh Khánh Hoà và Quân chủng Hải quân đã tổ chức hội nghị và ký kết chương trình phối hợp tuyên truyền về biển đảo. Theo đó, Quân chủng Hải quân và Khánh Hoà đã ký kết 10 nội dung tuyên truyền phù hợp và hấp dẫn với đặc thù sinh sinh sống của từng vùng miền. Xem tiếp

Vấn đề vạch đường biên giới Biển giữa Việt Nam và một số quốc gia láng giềng liên quan

Vấn đề vạch đường biên giới biển, đảo giữa Việt Nam và một số quốc gia láng giềng liên quan đang thu hút sự chủ ý của dư luận trong và ngoài nước. Chúng tôi thông tin đến bạn đọc tư liệu quan trọng liên quan đến vấn đề này. Xem tiếp

Xây dựng và hoàn thiện dự thảo Luật về các vùng biển Việt Nam

(ĐCSVN)- Đó là sự khẳng định của các cuộc hội thảo ngày 1/6/2006, tại Hà Nội và ngày 7/6/2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh do Bộ Ngoại giao lấy ý kiến đóng góp để bổ sung, hoàn thiện dự thảo Luật về các vùng biển Việt Nam. Xem tiếp

10 nhiệm vụ công tác tuyên truyền biển đảo năm 2006

(ĐCSVN)- “Trong năm 2006, các phương tiện thông tin đại chúng, các lực lượng quân sự, dân sự, các báo cáo viên cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về biển đảo hơn nữa để làm nổi bật vai trò chiến lược của biển đảo đối với sự nghiệp phát triển đất nước”.Xem tiếp

Ngoại giao với công tác bảo vệ lợi ích Quốc gia, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

(ĐCSVN) - Đối với mỗi quốc gia dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng - bất khả xâm phạm. Để có được giang sơn gấm vóc ngày nay, dân tộc ta đã phải đổ biết bao mồ hôi, xương máu và trí tuệ trong suốt hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Được sự quan tâm, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành, địa phương, công tác ngoại giao phục vụ bảo vệ lợi ích quốc gia, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đã đạt được nhiều kết quả to lớn. Xem tiếp

Phát triển khoa học - công nghệ, xây dựng bền vững các công trình trên biển, đảo

Vừa qua, tại Hà Nội, Trung tâm Khoa học kỹ thuật-công nghệ quân sự và Binh chủng Công binh phối hợp với Viện Khoa học-công nghệ Việt Nam tổ chức hội nghị khoa học về công trình biển-DKI. Trung tướng, GS, TSKH Nguyễn Hoa Thịnh, Giám đốc Trung tâm KHKT-CNQS chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị có đại diện một số bộ, ban ngành Trung ương, các nhà khoa học trong và ngoài quân đội. Xem tiếp

Quốc vương Campuchia ký ban hành Hiệp ước biên giới bổ sung với Việt Nam

Ngày 30/11, Quốc vương Nôrôđôm Xihamôni với tư cách Quốc trưởng Vương quốc Campuchia, đã ký Sắc lệnh ban hành Hiệp ước biên giới bổ sung Hiệp ước phân định biên giới quốc gia năm 1985 giữa Campuchia và Việt Nam, do Thủ tướng Campuchia Hun Xen và Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải ký ngày 10/10 tại Hà Nội. Xem tiếp

Hưởng ứng Ngày làm sạch biển toàn cầu: Biển sạch với thiên nhiên và cuộc sống con người

(ĐCSVN)- Hàng năm, vào ngày thứ 7 tuần thứ 3 của tháng 9, hàng trăm ngàn người trên thế giới có mặt tại các bờ biển để tham gia hoạt động làm sạch biển. Hưởng ứng Ngày làm sạch biển toàn cầu, vừa qua tại bờ biển các tỉnh Quảng Ninh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, gần hai nghìn tình nguyện viên đã tham gia làm sạch biển toàn cầu. Xem tiếp

Việt Nam hưởng ứng chiến dịch làm sạch biển Quốc tế

(ĐCSVN)- Thứ 7 ngày 17/09/2005 sẽ có gần hai nghìn tình nguyện viên tham gia phong trào làm sạch biển quốc tế bằng những hành động thiết thực như thu gom rác, các đồ vật gây nguy hiểm hoặc không phân huỷ được trên bờ biển. Đây là một phần của chiến dịch làm sạch biển quốc tế, do Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng (MCD), một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Hà Nội điều phối tổ chức cùng với Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Bộ Thuỷ sản. Xem tiếp

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lụ

Trong những năm qua, các bộ, ngành và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là chính quyền địa phương ven biển) đã có nhiều cố gắng trong công tác phối hợp quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế của đất nước. Xem tiếp

Bảo đảm an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản

Ngày 19-5, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định về bảo đảm an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản. Tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động thủy sản trên các vùng biển và các vùng nước tự nhiên khác của Việt Nam đều phải tuân theo các quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật có liên quan. Xem tiếp

Quảng Trị ra mắt huyện đảo Cồn Cỏ

Ngày 18-4, tỉnh Quảng Trị làm lễ ra mắt huyện đảo Cồn Cỏ, đơn vị hành chính thứ 10 của tỉnh. Xem tiếp

Về thủ tục, kiểm tra, giám sát biên phòng tại các cảng biển

Ngày 13-12-2004, Bộ trưởng Quốc phòng đã ban hành Quyết định về thủ tục, kiểm tra, giám sát biên phòng tại các cảng biển và cảng chuyên dùng. Quyết định này áp dụng cho người, tầu, thuyền của Việt Nam và nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, hoạt động tại các cảng biển và cảng chuyên dùng của Việt Nam. Xem tiếp

Quản lý hoạt động thủy sản của tầu cá nước ngoài trong vùng biển Việt Nam

Ngày 18-11, Chính phủ đã ban hành Nghị định về quản lý hoạt động thủy sản của tầu cá nước ngoài trong vùng biển Việt Nam. Dưới đây là nội dung Nghị định. Xem tiếp

Chỉ thị số 34/2004/CT-TTg, ngày 14/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ

Về việc tăng cường phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam

Trong những năm qua, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương (sau đây gọi và có quyền địa phương ven biển) đã có nhiều cố gắng trong công tác phối hợp quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên, trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam còn xảy ra nhiều vụ việc nghiêm trọng, làm thiệt hại đến tính mạng, tài sản của nhân dân, nguồn lợi hải sản của đất nước và môi trường biển, thậm chí vi phạm chủ quyền nước ta, ảnh hưởng bất lợi đến quan hệ đối ngoại. Xem tiếp

Biển và hàng hải thương mại của các nước ASEAN

Trừ CHDCND Lào, các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đều có biển. Vì vậy, biển đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của mỗi nước thành viên. Kinh tế biển gắn liền với hoạt động hàng hải thương mại. Xem tiếp

Biển trong đời sống con người

Mỗi người chúng ta khi sinh ra đều bắt đầu cuộc sống của lĩnh trong môi lường thiên nhiên. Thiên nhiên ấy bao gồm đất, trời và biển. Biết bao thế kỷ đã trôi qua, biển cả và đại dương luôn luôn quyến rũ và thử thách con người. Xem tiếp

Luật biên giới quốc gia

Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh của đất nước. Xem tiếp

Tăng cường quản lý và bảo vệ chủ quyền các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam

Ngày 14/10/2004, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 34/2004/CT-TTg về việc tăng cường phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Xem tiếp

Thành lập huyện đảo Cồn Cỏ

Huyện đảo Cồn Cỏ được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của đảo Cồn Cỏ thuộc xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Linh, với diệnk tích 22 ha và 400 nhân khẩu. Xem tiếp

Giới thiệu một số công ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam ký kết

Cùng với sự phát triển của nhà nước, pháp luật ngày càng can thiệp vào nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, với phạm vi hoạt động khác nhau, trong đó có lĩnh vực môi trường và tài nguyên. Xem tiếp

Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Sau khi được Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chuẩn y, Tuyên bố quy định các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam... Xem tiếp

Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam

Thực hiện Điểm 1 trong Tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chuẩn y. Xem tiếp

Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển

Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và an ninh, trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội Khóa IX, kỳ họp thứ 5 về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ 2 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 1998;
Pháp lệnh này quy định về Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.   Xem tiếp

Nghị định của Chính phủ số Số 161/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2003 Về Quy chế khu vực biên giới biển

CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Biên giới quốc gia ngày 17 tháng 6 năm 2003;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,   Xem tiếp

Hiệp định giữa nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước

Ngày 24-6-2004, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký Lệnh số 16-2004/L/CTN công bố Nghị quyết về việc phê chuẩn “ Hiệp định giũa nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về phần định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ" đã được Quốc hội nước CNXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15-6-2004. Xem tiếp

Việt Nam và tiến trình phát triển luật lệ về biển

Việt Nam là một quốc gia ven biển, biển gắn liền với đất nước và con người Việt Nam trong tất cả quá trình hình thành và phát triển dân tộc. Lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của luật biển Việt Nam có thể chia ra làm bốn thời kỳ:
- Luật biển trước khi phương Tây tới;
-Luật biển dưới thời thực dân (1858 - 1954);
-Luật biển trong giai đoạn đất nước bị phân chia (1954-1975);
-Luật biển từ khi đất nước thống nhất (sau 1975).  Xem tiếp

Mọi bản quyền về thông tin biển đảo Việt Nam đều thuộc về website Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

Thư tịch Trung Hoa thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Việt Nam

Cập nhật lúc :10:30 AM, 29/06/2011
Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
 

Trong khi đó, không ít thư tịch cổ Trung Hoa, do chính người Trung Hoa ghi lại trong lịch sử đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Một tài liệu đáng tin cậy về chính sử Trung Hoa là cuốn "Lịch sử Trung Quốc thời trung cổ” do Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978, học giả Hsieh Chiao-Min trong bài "Nghiên cứu về lịch sử và địa lý” nhận định về cuộc thám hiểm của Trung Hoa tại đại dương như sau: "Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết với đại dương”. Theo các tài liệu lịch sử chính thống "thảng hoặc triều đình Trung Hoa cũng gửi những đoàn thám hiểm đến Nhật Bản trong các thế kỷ thứ III và thứ II (TCN) và tại Đông Nam Á, Ấn Độ, Ba Tư và Phi Châu trong thế kỷ XV. Điểm rõ nét nhất là tại Thái Bình Dương có rất ít, nếu không nói là không có, những vụ xâm nhập quy mô của Trung Hoa” suốt chiều dài lịch sử (từ đời nhà Tần thế kỷ thứ III TCN đến nhà Thanh từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX).

Dưới đời nhà Minh, Minh Thành Tổ cử Đô đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy những đoàn thám hiểm đến Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập nhằm thiết lập bang giao với trên 30 quốc gia duyên hải, triển khai Con đường Tơ Lụa tại Ấn Độ, Phi Châu và Trung Đông. Những chuyến hải hành của phái bộ Trịnh Hòa không phải để chinh phục Biển Đông nơi có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế đoàn thuyền chỉ đi ngang qua Biển Đông nhằm khai phá Ấn Độ Dương. Trạm trú chân duy nhất của đoàn trong khu vực này là Đồ Bàn (Chaban) thủ phủ Chiêm Thành bấy giờ. Sau khi Minh Thành Tổ mất, triều đình nhà Minh đã phê phán những cuộc hải trình nặng phần trình diễn của Trịnh Hòa đã góp phần làm suy yếu nền kinh tế quốc gia.

Sử gia Triệu Nhữ Quát đời nhà Tống trong cuốn Chư Phiên Chí đã xác nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng từ thời nhà Hán. Theo đó, năm 111 TCN, sau khi thôn tính Nam Việt "Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra 2 quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ I TCN, Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam. Mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy (cuối thế kỷ thứ VI đầu thế kỷ thứ VII) mới đặt lại quyền cai trị”. Triệu Nhữ Quát cũng cho biết vùng quần đảo Hoàng Sa (Vạn Lý Trường Sa) là nơi nguy hiểm, tàu thuyền Trung Hoa không nên đến gần vì chỉ đi sai một tí là có thể chìm đắm. Nhan đề sách là Chư Phiên Chí, có nghĩa là chép chuyện các phiên quốc, nước ngoài. Vạn Lý Trường Sa nằm ở phiên quốc, có nghĩa là không thuộc về Trung Hoa mà thuộc về phiên quốc Nam Việt. Như vậy, biên giới trên Biển Đông của Trung Hoa vào đời nhà Hán chỉ tới đảo Hải Nam.

 

Một trang trong cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt.
Đời nhà Đường có sách Đường Thư Nghệ Văn Chí đề cập tới cuốn Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phu chép những chuyện kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Sách này chép, tại Thất Châu Dương (nhóm An Vĩnh, quần đảo Hoàng Sa) là nơi có nhiều đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt đi qua không được. Điều này đã khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc về Giao Châu xưa (nay là Việt Nam). Trong đời Nam Tống, cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Châu Khứ Phi cũng xác nhận: "Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”. Chư Phiên Đồ đời Tống cũng xác định giới hạn lãnh thổ của Trung Quốc với các nước khác ở Giao Dương (tức Giao Chỉ Dương). Giao Chỉ Dương hay Biển Giao Chỉ là Vịnh Bắc Bộ ngày nay, trong khi Hoàng Sa và Trường Sa lại cách xa Vịnh Bắc Bộ hàng trăm dặm về phía nam. Như vậy, các thư tịch cổ Trung Hoa từ đời nhà Tống đã cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc về Trung Quốc mà thuộc về nước khác mà Trung Quốc gọi là phiên quốc hay Giao Châu, Giao Chỉ.

Vào đời nhà Nguyên, quân và dân Đại Việt đã 3 lần đánh tan quân Nguyên – Mông xâm lược và góp phần phá tan kế hoạch Đông Tiến (đánh Nhật Bản) của đoàn quân Mông Cổ nổi danh là bách chiến bách thắng từ đời Thành Cát Tư Hãn. Sau 3 phen thất bại, nhà Nguyên không còn dòm ngó Đại Việt cả trên lục địa đến các hải đảo. Trong suốt các thế kỷ XIII và XIV, theo chính sử Trung Hoa, quân Mông Cổ không hề có ý định xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong Dư Địa Đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách Quảng Dư Đồ của La Hồng Tiên thực hiện năm 1561 phần cực nam lãnh thổ Trung Hoa là đảo Hải Nam.

Đời nhà Minh, Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ trong Đại Minh Nhất Thống Chí (1461), Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ trong Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ (1635) đã vẽ phần cực nam Trung Hoa là đảo Hải Nam. Trong khi cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi gọi Biển Đông là Giao Chỉ Dương. Trên các bản đồ Trịnh Hoà Hạ Tây Dương, Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ cũng không thấy ghi chép các danh xưng Hoàng Sa, Trường Sa (hay theo cách gọi của Trung Hoa là Tây Sa, Nam Sa, Tuyên Đức, Vĩnh Lạc) trong các lộ trình và hải đạo của Trịnh Hòa sau 7 lần đi qua Biển Đông để khai phá Ấn Độ Dương (Tây Dương). Nhiều tài liệu chính sử nhà Minh cho biết, từ thế kỷ XV, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ của Đại Việt. Lưu ý rằng từ năm 1427 Lê Lợi đã đánh thắng quân Minh để giành lại chủ quyền cho Đại Việt bị Minh Thành Tổ chiếm đoạt từ 20 năm trước (1407).

 

Đại Thanh Nhất Thống Toàn Đồ, đảo nhỏ ở phía dưới là Hải Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ, đảo lớn hơn bên phải là Đài Loan.
Đời nhà Thanh, từ thế kỷ thứ XVII đến XX, theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Bản Đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX "lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Qua thế kỷ XX, sự kiện này còn được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 với đoạn như sau: "Điểm cực nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại vĩ tuyến 18”. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam kéo dài từ vĩ tuyến 20 (ngang Thanh Hoá) đến vĩ tuyến 18 (ngang Nghệ An – Hà Tĩnh). Trong khi quần đảo Hoàng Sa tọa lạc về phía nam, từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi) và quần đảo Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 8 (Cam Ranh – Cà Mau). Bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do triều đình nhà Thanh ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (cũng không thấy ghi theo cách gọi của Trung Quốc là Tây Sa, Nam Sa, Vịnh Lạc, Tuyên Đức...). Hơn nữa, trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) chép: "Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát dài ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy, tư liệu này của Trung Quốc đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ trên biển của Việt Nam. Trong bộ sách địa lý Đại Thanh Nhất Thống Chí do Quốc Sử Quán nhà Thanh biên soạn năm 1842 với lời tựa của hoàng đế Thanh Tuyên Tông, không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa). Trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (1744), vùng biển của Việt Nam tại Biển Đông được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương. Trong vụ ngư dân đảo Hải Nam cướp tàu chở đồng bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa những năm 1895-1896, để trả lời văn thư phản kháng của Chính phủ Anh, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trung Hoa đã phủ nhận trách nhiệm với lý do: "Hoàng Sa không liên hệ gì tới Trung Quốc”. Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán một nhà sư thời Khang Hy đã đến đất Thuận Hóa của chúa Nguyễn ngày 29 tháng giêng năm Ất Hợi (13-3-1695) thuật lại chuyến hải hành này và ghi nhận chủ quyền của Đại Việt trong việc chiếm hữu, kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông nơi tọa lạc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII.

Các tài liệu cổ của Trung Hoa rõ ràng cho thấy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) đã được người Việt Nam phát hiện, sử dụng trong nhiều thế kỷ một cách hoà bình và liên tục không có sự phản đối của bất cứ quốc gia nào kể cả của Trung Quốc. Điều đó được minh chứng từ tư liệu chính sử của nhiều triều đại Trung Quốc trong đó đã mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hơn 22 thế kỷ từ thời Tần, Hán cho đến đầu thế kỷ XX.

 

(Báo Đất Việt)

Việt Nam trong bản đồ Đông Nam Á 1606

16/07/2011 19:23:53
Có tài liệu cho thấy người ngoại quốc đã đến Việt Nam trước khi Lê Quý Đôn theo quân Trịnh vào Thuận Hoá. Và họ ghi lại 170 năm trước “Phủ Biên Tạp Lục” sự căn thuộc Việt Nam của quần đảo ta gọi là Hoàng Sa. Khi ấy, Trung Quốc còn ở xa tắp và nhà Minh sắp mất vào tay Mãn tộc!

Gerardus Mercator và Jodocus Hondius là hai nhà địa dư học nổi tiếng của xứ Hoà Lan (Netherland) từ thế kỷ 17, vào năm 1600 trở về sau. Thời ấy, để cạnh tranh với Công ty Đông Ấn của Anh, Công ty Đông Ấn của Hoà Lan được lập ra năm 1602 và phát triển cơ sở kinh doanh ở khắp nơi nên mới tập trung lại các tài liệu tham khảo về địa hình địa thế Á Đông.

Tấm bản đồ này được in vào năm 1613 do Jodocus Hondius (1563-1612) vẽ lại theo bản đồ Đông Nam Á xuất bản 1606, căn cứ trên những dữ kiện của nhà địa dư học Bồ Đào Nha (Portugal) là Bartolomeu Lasso vào đầu thế kỷ 16 – tức là trước đó khoảng trăm năm.

Tấm bản đồ trình bày bằng tiếng Latinh, có tên là  “Insulae Indiae Orientalis Praecipuae“, ghi rõ vùng biển Đông Nam Á từ đảo Sumatra phía Tây đến New Guinea và cả… đảo Guam phía cực Đông trong một chuỗi đảo họ mệnh danh là “quần đảo thổ phỉ” (Islas de las Vellas), và từ đảo Timor gần Úc Đại Lợi phía Nam lên tới Hải Nam của Trung Quốc ở phía Bắc.

Thời ấy, thế giới Tây phương vẫn mơ hồ về đảo Java, với hướng Nam còn ghi bằng hàng dấu chấm trên bản đồ. Nhưng qua tài liệu tô màu này, các sử gia thích thú tìm thấy chứng cớ cập bến của nhà thám hiểm và Phó Đề đốc nổi tiếng của Nữ Hoàng Anh Elizabeth I là Sir Francis Drake (sinh khoảng năm 1540 và mất năm 1596): tại một hải cảng ở miền Nam Java có ghi hàng chữ “Huc Franciscus Dra. Appulit“.

Họ rất vui với việc đó, nhưng người Việt chúng ta lại chú ý đến nhiều dữ kiện khác.

Góc Tây-Bắc của tấm dư đồ là đất “Cauchin, có tên khác là Cauchinchina“, là Cochinchine theo lối gọi thời Tây sau này. Đấy là địa đồ của Đàng Trong khi mở ra cục diện Trịnh-Nguyễn phân tranh: chúa Nguyễn Hoàng mất năm 1613, là khi tấm bản đồ được đưa vào cuốn Atlas Mercator Hondius.

Nhân đây, xin ghi một chi tiết tồn nghi về tên gọi.

Từ thế kỷ 13, các nước đã theo Marco Polo mà gọi tên nước ta là Caugigu (phiên âm từ “Giao Chỉ quốc), sau đọc trại thành Kiaoche rồi Coci – là cách gọi của người Bồ Đào Nha. Thế rồi, để khỏi lầm với đất Koci của Ấn Độ, người ta mới thêm chữ China hay Cina, nên Cauchinchina trở thành tên gọi chung của nước Đại Việt. Đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh, người ta mới gọi Đàng Ngoài là Tunking hay Tonkin, từ chữ Đông Kinh là Hà Nội ngày nay. Còn Đàng Trong vẫn giữ tên Cauchinchina hay Cochinchine như Pháp gọi sau này.

Nếu cứ theo mặt tên mà nói thì các nhà báo Tây phương ngày nay có thể kết luận rằng toàn cõi Việt Nam là… của Trung Quốc. Đất Cochin của nước China mà! Chúng ta nên giảng điều này cho con cháu, nhất là những thế hệ sinh đẻ ở bên ngoài, để chúng khỏi nhận giặc làm cha.

Trên tấm dư đồ, ta nhận ra Thuận Hoá dưới tên viết Latinh là Sinoa – chứ không phải là Chinois! – sau này mình mới gọi là Phú Xuân rồi Huế. Nhiều địa danh khác thì phải nghiên cứu thêm thì mới biết được – và đấy cũng là một mục tiêu khi chúng tôi giới thiệu tài liệu này. Như tại phía Bắc có thành phố ghi tên Bicuputri, dịch từ tiếng Latinh ra là “trụ đá” hay “Thạch trụ”, “Thạch bi”. Chẳng lẽ là núi Thạch Bi?

Xin các nhà địa dư học tìm hiểu và chỉ cho.

Tại phía Nam, quãng Phú Yên Khánh Hoà thì có địa danh Lantam. Thực tế là gì thì mình chưa rõ – hoặc nếu ai tìm ra cách lý giải thì xin góp ý – chỉ nhớ rằng tấm bản đồ được vẽ theo những tài liệu của Bồ Đào Nha cách đó trăm năm.

Đáng chú ý hơn cả, tấm bản đồ ghi rất rõ ngoài khơi Việt Nam một vùng quần đảo có nhiều bãi cát nông chạy dài xuống hướng Tây-Nam được ghi là Pracel.
Đông Nam Á trên bản đồ của Hondius xuất bản năm 1606 tại Amsterdam
Đông Nam Á trên bản đồ của Hondius xuất bản năm 1606 tại Amsterdam

Đối diện với quần đảo – và trên lãnh thổ Việt Nam được viền màu vàng -  là tên “Costa de Pracel” – Bờ Pracel. Chẳng liên hệ gì đến đảo Hải Nam của Trung Quốc được tô hồng với tên là Ainan!

 Chúng ta nhớ lại thì Lê Quý Đôn viết trong “Phủ Biên Tạp Lục” (soạn thảo từ 1776) rằng: “… Trước đó, họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào. Cắt phiên, mỗi năm cứ Tháng Hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng. Đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy.”

Bây giờ, có tài liệu cho thấy người ngoại quốc đã đến Việt Nam trước khi Lê Quý Đôn theo quân Trịnh vào Thuận Hoá. Và họ ghi lại 170 năm trước “Phủ Biên Tạp Lục” sự căn thuộc Việt Nam của quần đảo ta gọi là Hoàng Sa. Khi ấy, Trung Quốc còn ở xa tắp và nhà Minh sắp mất vào tay Mãn tộc!

Chúng ta không quên rằng người Bồ Đào Nha và Hoà Lan đã tiếp xúc và buôn bán với cả hai chúa Trịnh và Nguyễn, Khi thương thuyền Grootenbrook bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa, người cầm đầu thương điếm của Công ty Đông Ấn Hòa Lan tại Faifo lại không lên… đảo Hải Nam mà vào Thuận Hoá để cám ơn Chúa Thượng việc thủy thủ đoàn của họ được người Việt cứu vớt. Chúng ta cũng biết rằng dưới thời Trịnh Nguyễn, nhà Đại Thanh còn phải củng cố quyền lực sau khi diệt nhà Minh vào năm 1644, cho đến lúc lẫy lừng nhất vào đời Càn Long thì bị Quang Trung bợp tai đá đít năm 1789.

Những người Hoa duy nhất mà dân ta gặp trên cái đất được Tây phương gọi là Cauchinchina là dân tỵ nạn của triều Minh, là “thuyền nhân” hay hải tặc tìm đất dung thân ở Đàng Trong, Họ được dân ta đón nhận, đối xử tử tế và bình đẳng theo truyền thống Việt Nam mà các nhà hàng hải Hoà Lan đã sớm ghi nhận. Họ góp phần khai phá miền Nam, trở thành kiện tướng hay công thần của các Chúa rồi các Hoàng đế nhà Nguyễn.

Cùng thời đó, Hondius còn có một tấm bản đồ thứ nhì (India Orientalis), chú trọng trình bày Ấn Độ dương từ Vịnh Bengale phía Đông qua Biển Á Rập phía Tây, nhưng vẫn đầy đủ chi tiết về đất Cauchinchina này… Không hề có chuyện người Trung Hoa hay nước Trung Quốc cai quản hoặc làm chủ Hoàng Sa hay Trường Sa.

Nguyễn Xuân Nghĩa
(Theo Dinamax Magazine)

Nghiên cứu biển đảo, củng cố chủ quyền quốc gia

Cập nhật lúc :8:25 AM, 20/07/2011
(Đất Việt) Nghiên cứu, điều tra cơ bản biển đảo không những tạo tiền đề để phát triển kinh tế biển mà còn góp phần củng cố chủ quyền quốc gia trên biển..., PGS. TS Vũ Thanh Ca, Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý Biển và Hải đảo nhận định.

Tài nguyên lớn nhất của Việt Nam chính là tài nguyên vị thế nằm dọc bờ biển. Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa tận dụng được lợi thế này để làm giàu từ biển. Vì thế, nghiên cứu, điều tra cơ bản biển đảo không những tạo tiền đề để phát triển kinh tế biển mà còn góp phần củng cố chủ quyền quốc gia trên biển.

Đó chính là nhận định của PGS. TS Vũ Thanh Ca, Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý Biển và Hải đảo (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ TN-MT) khi trao đổi với Đất Việt về công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội biển đảo của Tổ quốc.

 án điều tra cơ bản được tiến hành đối với 10 đảo, quần đảo lớn, đang trong giai đoạn hoàn thiện, trong đó có đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).

- Thực trạng về công tác nghiên cứu biển và hải đảo của nước ta hiện đang được tiến hành như thế nào, thưa ông?

- Lĩnh vực biển đảo nằm dưới sự quản lý của 15 bộ, ngành. Từ trước tới khi thực hiện Đề án Tổng thể về Điều tra cơ bản và Quản lý TN-MT biển đến 2010, tầm nhìn đến năm 2020 vào năm 2006, đã có nhiều kết quả điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường biển thực hiện do Chương trình Biển thuộc Bộ KH-CN quản lý, và các chương trình, đề tài, dự án do các bộ ngành và địa phương thực hiện. Các kết quả thu được là nguồn số liệu rất quan trọng, làm cơ sở phục vụ phát triển kinh tế biển, xây dựng các chiến lược, chính sách quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển cũng như các nghiên cứu khoa học biển.

Tuy nhiên, do thiếu kinh phí nên các điều tra, khảo sát được thực hiện không đồng bộ và với mật độ số liệu rất thấp, kết quả thu được lại nằm rải rác tại các cơ quan khác nhau nên rất khó quản lý, sử dụng. Phần lớn các điều tra khảo sát về tài nguyên, môi trường và địa hình tại các đảo và vùng biển xung quanh các đảo được tiến hành với tỷ lệ quá nhỏ. Nhiều số liệu điều tra đã cũ và không được cập nhật nên rất khó sử dụng phục vụ phân vùng chức năng khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái.

- Phải chăng việc thiếu hệ thống số liệu điều tra cơ bản về biển đảo đã khiến một đất nước nằm dọc bờ biển như nước ta vẫn chưa thể làm giàu từ kinh tế biển?

- Tài nguyên quan trọng nhất của biển nước ta là tài nguyên vị thế. Tài nguyên vị thế được hiểu là những giá trị mà vị trí địa lý, không gian, cảnh quan, hệ sinh thái, chất lượng môi trường và một số đặc tính mà biển có thể đem lại phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, nghỉ dưỡng, phục hồi sức khoẻ, bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia.

Biển nước ta có giá trị tài nguyên vị thế rất cao vì nó nằm trên đường hàng hải quan trọng, rất thuận tiện cho giao thông. Không những nằm tại khu vực có tốc độ phát triển kinh tế cao và là cầu nối giữa nhiều cường quốc kinh tế và chính trị trên thế giới, tài nguyên vị thế của còn thể hiện ở giá trị sử dụng của không gian biển. Với vị trí thuận lợi cho giao thông và các vũng, vịnh kín có độ sâu lớn, rất thuận lợi làm cảng, không gian rộng lớn ở ven biển và trên bờ biển rất thuận lợi để phát triển các khu kinh tế… Ngoài ra, Biển Đông còn có giá trị chiến lược về mặt quân sự.

Tài nguyên vị thế là một dạng tài nguyên tái tạo, nếu biết sử dụng bền vững thì có thể mãi mãi tạo nguồn lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Để khai thác tốt tài nguyên biển, đặc biệt tài nguyên vị thế và hệ sinh thái biển, cần điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường biển. Các số liệu điều tra cơ bản sẽ giúp phân vùng chức năng, trên cơ sở đó quy hoạch không gian biển phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái biển. Nghiên cứu điều tra cơ bản biển đảo còn giúp củng cố chủ quyền quốc gia trên biển.

- Được biết Đề án Tổng thể về Điều tra cơ bản và Quản lý TN-MT biển đến 2010, tầm nhìn đến năm 2020 (Đề án 47) đã được triển khai thực hiện từ năm 2006. Tại sao đến nay vẫn phải xây dựng một số dự án bổ sung?

- Đề án tổng thể về Điều tra cơ bản và Quản lý TN-MT biển đến 2010, tầm nhìn đến năm - 2020 được triển khai thực hiện từ năm 2006. Giai đoạn này của đề án với 20 dự án thành phần. Một số dự án đã hoàn thành và cung cấp nhiều số liệu điều tra cơ bản. Tuy vậy, nhiều vấn đề chưa được thực hiện trong giai đoạn 1 của dự án và cần được thực hiện trong các phần tiếp sau của dự án.

- Khó khăn lớn nhất hiện nay chính là nhân lực và phương tiện nghiên cứu. Hiện nay, đội ngũ cán bộ phục vụ điều tra cơ bản rất thiếu. Công việc điều tra, khảo sát biển cần các tàu chuyên dụng với thiết bị hiện đại nhưng hiện tại Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam chỉ có một con tàu Nghiên cứu biển được đóng từ năm 1995. Tuy nhiên, hiện tại con tàu này đã bị xuống cấp, các thiết bị điều tra, khảo sát lạc hậu.

 

Đề án 47 gồm các dự án chính, như: Điều tra cơ bản TN-MT một số hải đảo, cụm đảo lớn, quan trọng phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền lãnh hải; Điều tra, đánh giá tích hợp và dự báo biến động điều kiện tự nhiên, TN-MT và tai biến thiên nhiên vùng biển từ Thanh Hóa đến Bình Thuận phục vụ phát triển kinh tế biển; Giám sát TN-MT biển, hải đảo bằng công nghệ viễn thám… Trong đó, dự án điều tra cơ bản được tiến hành đối với 10 đảo, quần đảo lớn, đang trong giai đoạn hoàn thiện, sớm trình Chính phủ để thực hiện trong đầu năm 2012 với tổng kinh phí khoảng hơn 200 tỷ đồng.

(Theo Đất Việt)

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Dày đặc tư liệu nước ngoài khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa của VN

Cập nhật lúc :8:41 AM, 22/07/2011
(ĐV) Không chỉ những bằng chứng lịch sử và hành động cụ thể xác định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và trường Sa, các tài liệu lịch sử của nhiều nước cũng chứng tỏ điều này một cách rõ rệt.

Những tài liệu của người Pháp, Hà Lan... từ trước thế kỷ 18 đều ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này.

Những sử liệu chính xác

Từ nhiều thế kỷ trước, người phương Tây đã biết đến và ghi nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng trong quá trình nghiên cứu Ký sự Batavia (Journal de Batavia) của Công ty Đông Ấn - Hà Lan xuất bản, cho thấy vào các năm 1631-1636 có ghi về những sự kiện các tàu biển thuộc Công ty Đông Ấn bị tai nạn tại quần đảo Hàng Sa thuộc xứ Đàng Trong như sau: Ngày 20/7/1634, vào thời Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), 3 chiếc tàu biển đăng ký tại Hà Lan từ Batavia (Indonesia) đến Tuoranne (Đà Nẵng) cùng nhổ neo đi Đài Loan. Ngày 21, trên đường biển tại tọa độ khoảng 15 vĩ độ và 115 kinh tuyến, các tàu đã gặp bão nên lạc hướng, trong đó, 1 chiếc bị đắm gần tọa độ nêu trên, nơi có quần đảo Hoàng Sa. Thủy thủ để lại 50 người ở lại đảo, mang theo 2 người vào duyên hải xứ Đàng Trong xin giúp đỡ, và được đi nhờ tàu Nhật Bản về xứ Batavia.

Chắc tay súng bảo vệ vùng biển đảo thương yêu của Tổ quốc. (Ảnh minh họa)


Sau này, trong cuốn sách Hoàng Sa, Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng cũng nêu: Kể từ năm 1634, người Hà Lan đã tường thuật khá rõ về quần đảo Hoàng Sa trên lãnh hải Việt Nam do các Chúa Nguyễn hành xử để kiểm soát các tàu biển qua lại khu vực này. Nhưng địa danh Hoàng Sa (Paracel), Trường Sa (Spartley) không phải tới năm 1636 mới được người Hà Lan chính thức nói đến. Ngay từ đầu thế kỷ XVI, một bản đồ hàng hải phương Tây được anh em nhà Van Langren, người Hà Lan vẽ, ấn hành năm 1595 đã nhắc đến địa danh Pareacel, Spartley.

Ngoài các tài liệu của người Hà Lan về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các giáo sĩ châu Âu thuộc Hội truyền giáo Paris thường xuyên tháp tùng các thuyền buôn đến Việt Nam truyền giáo tại các xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài cũng ghi chép cẩn thận về hải trình họ theo các thuyền buôn đến Việt Nam và được lưu trữ tại Văn khố Hội truyền giáo Paris. Các tài liệu này đều cho thấy việc các tàu thuyền buôn của họ gặp nạn, được các chúa Nguyễn giúp đỡ, trở về nước. Các tư liệu này được viết bằng tiếng Pháp và sau này được giáo sĩ Đặng Phương Nghi công bố trên Tập san Sử địa ấn hành năm 1975 tại Sài Gòn.

Sự thật hiển nhiên không thể bác bỏ

Tương tự như các tài liệu của phương Tây nửa đầu thế kỷ 19, trong sách Bức tranh Thế giới - Lịch sử và sự mô tả các dân tộc, tôn giáo, phong tục, tập quán của họ: Nhật Bản, Đông Dương, Tích Lan, nhà xuất bản Firmin-Didot Frères et Cie, xuất bản năm 1850 tại Paris, cũng nhắc đến chủ quyền của xứ Đàng Trong đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: “...Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng từ hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels mà người Việt gọi là Cát Vàng hoặc Hoàng Sa, gồm rất nhiều hòn đảo chằng chịt - đã được chiếm cứ bởi người xứ Đàng Trong”.

Đặc biệt, nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng cũng cho biết trong số các tài liệu phương Tây viết về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có khá nhiều sách và bài viết của Giám mục Jean Louis Taberd. Ông là giám mục Thiên Chúa giáo, am tường về địa lý, lịch sử, phong tục, ngôn ngữ xứ Đàng Trong. Bài viết của Giám mục J.L. Taberd trong quyển sách xuất bản định kỳ hằng năm là Bức tranh Thế giới - Lịch sử và mô tả các dân tộc, tôn giáo, phong tục, tập quán của họ, xuất bản năm 1833 tại Paris, có nêu: “... chúng tôi biết chắc là Hoàng đế Gia Long đã thân chinh vượt biển để thâu quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816, Ngài đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong”. Vài năm sau, cũng Giám mục Taberd, trong bài viết Ghi chú về địa lý xứ Đàng Trong đăng trên Tập san Hội châu Á của xứ Bengal, xuất bản tháng 9/1837 tại Calcutta (Ấn Độ), và bài Ghi chú thêm về địa lý xứ Đàng Trong, tháng 4/1838, tiếp tục xác định: “Năm 1816, nhà vua đã tới cắm cờ một cách long trọng và chính thức giữ chủ quyền các hòn đảo này, nơi hình như không một ai tranh giành với nhà vua”.

Đặc biệt, trong cuốn Tự điển La tinh - Việt cũng của Giám mục J. L Taberd, xuất bản năm 1838, còn đính thêm một bản đồ với tên gọi là An Nam Đại quốc Họa đồ, trong đó ghi rõ tọa độ và khẳng định Paracels hay Cát Vàng nằm trong lãnh hải của Việt Nam. Điều này chứng tỏ quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và Trường Sa (Spartey) là những hải đảo quen thuộc với các nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây từ thế kỷ 16. Mỗi khi bị nạn, họ đều tìm cách đến duyên hải Đàng Trong của Việt Nam mong được cứu giúp vì Hoàng Sa, Trường Sa từ thế kỷ 16 đã thuộc quyền sở hữu của các Chúa Nguyễn (1558-1778).

Những sử liệu và sự kiện này chứng minh một cách chính xác và hùng hồn cho chủ quyền Việt Nam trên vùng biển này. Các sử liệu này cũng khẳng định rằng chậm nhất là đến cuối thế kỷ 16, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam và được người Việt chính thức hành xử chủ quyền trên các đảo ấy. Đây là sự thật hiển nhiên mà không một sử gia chân chính nào có thể bác bỏ.

Sắp thành lập 17 chi cục biển đảo

SGTT.VN - Đó là nội dung đáng chú ý tại hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm của Tổng cục biển và hải đảo Việt Nam chiều ngày 26.7.

Đến nay đã có 9 tỉnh thành lập chi cục biển và hải đảo, 17 tỉnh thành đang lập đề án thành lập chi cục biển và hải đảo. Tuy nhiên, có 2 tỉnh thành là TP Hồ Chí Minh và Quảng Trị, do diện tích biển tương đối nhỏ, nên chủ trương không thành lập chi cục, mà sẽ ghép với lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản để quản lý.

Hiện biên chế ở các chi cục biển và hải đảo là 10-15 người. Tuy nhiên, việc bố trí biên chế đang gặp khó khăn, do thiếu nguồn nhân lực được đào tạo qua các chuyên ngành về biển, hải đảo. Mặt khác, lĩnh vực này cũng chưa thu hút được cán bộ, công chức so với các lĩnh vực khác như môi trường, đất đai, khoáng sản…

Khánh Chi

Hoàng Sa và Trường Sa dưới thời Tây Sơn, nhà Nguyễn

Cập nhật lúc :8:54 AM, 29/07/2011
Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự được bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên nắm quyền... và được tiếp tục trong thời Tây Sơn và nhà Nguyễn.
 

Tại tỉnh Quảng Ngãi từ lâu đời đã tồn tại Di tích miếu Hoàng Sa ở đình làng Lý Hải thuộc đảo Lý Sơn. Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự được bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên lên nắm quyền và đặt ra các đội Hoàng Sa, Bắc Hải đặc trách công việc khai thác và bảo vệ biển Đông từ tuyến ngoài. Đây là một phương thức thực thi chủ quyền độc đáo của nhà nước Việt Nam trên các vùng quần đảo giữa biển Đông mà không có bất cứ một quốc gia nào trong khu vực có được... Các hình thức thực thi chủ quyền này được tiếp tục và phát triển trong thời Tây Sơn và triều Nguyễn.

Triều Tây Sơn

Thành tựu vĩ đại của phong trào nông dân Tây Sơn là đã bước đầu thống nhất được đất nước sau nhiều thế kỷ bị chia cắt thành hai khu vực Đàng Trong, Đàng Ngoài. Đây cũng là lần đầu tiên sự thống nhất được thực hiện trên phạm vi rộng lớn tương đương với nước Việt Nam ngày nay. Cũng là lần đầu tiên toàn bộ đường bờ biển chạy dài từ Vịnh Bắc Bộ đến Vịnh Thái Lan với hàng ngàn hòn đảo ven bờ cùng các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ngoài biển Đông đã thuộc về quyền kiểm soát của Nhà nước Việt Nam.

Giống như các chúa Nguyễn trước đây, Triều đại Tây Sơn của Quang Trung - Nguyễn Huệ vẫn tiếp tục tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác vùng quần đảo xa giữa biển Đông. Đội Hoàng Sa thời kỳ chúa Nguyễn được ấn định số lượng 70 suất và hoàn toàn chỉ chọn người xã An Vĩnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi.

Hằng năm, cứ vào tháng 2 đội xuất hành gồm 5 chiến thuyền ra Hoàng Sa, Trường Sa thu nhặt hóa vật của tàu bị nạn, tìm kiếm hải vật và ở lại đây  đến tháng 8 mới trở về nộp cho triều đình Phú Xuân.
 

Tờ lệnh Hoàng Sa.

 

Có lẽ vì đội Hoàng Sa không quản lý hết được vùng biển đảo rộng lớn nên chúa Nguyễn đã quyết định đặt thêm đội thuyền Bắc Hải. Đội này do đội Hoàng Sa kiêm quản và cũng có nhiệm vụ giống như đội Hoàng Sa nhưng chỉ hoạt động ở khu vực phía Nam, từ Bắc Hải, Côn Lôn cho đến các đảo ở vùng Hà Tiên. Đội Bắc Hải tuyển người ở thôn Tứ Chính và xã Cảnh Dương thuộc tỉnh Bình Thuận và không cố định số suất thủy thủ như đội Hoàng Sa.

Phong trào nông dân Tây Sơn khi bùng nổ đã phát triển rất nhanh và đến cuối năm 1773, đã giải phóng được một vùng rộng lớn từ Quảng Nam ở phía Bắc cho đến tận Bình Thuận ở phía Nam. Như thế là toàn bộ các vùng quê hương của hai đội Hoàng Sa và Bắc Hải, từ rất sớm, đã nằm trong khu vực kiểm soát của quân Tây Sơn.

Vào ngày 15 tháng giêng năm 1776, Cai hợp phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) là Hà Liễu đã làm đơn trình bày rõ: "Bây giờ chúng tôi lập hai đội Trường Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, Cù Lao ngoài biển tìm nhặt vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo, xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi xin tờ sai ra tìm báu vật cũng thuế quan đem phụng nạp".

Tờ đơn đã được chính quyền Tây Sơn (vua Thái Đức) xem xét, chuẩn cho và hiện vẫn còn lưu giữ lại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Cũng tại nhà thờ họ Võ, đến nay vẫn còn giữ được Chỉ thị ngày 14/2 năm thứ 9 hiệu Thái Đức (1786) của Thái Phó Tổng Lý Quản binh dân chư vụ Thượng tướng công "Sai Hội Đức hầu Cai đội Hoàng Sa luôn xem xét đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi 4 chiếc thuyền câu vượt biển thắng tiến Hoàng Sa cùng các sứ Cù Lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, đá quý… đều chở về kinh tập trung nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật quý hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều sẽ bị trị tội".

Ngoài ra còn có bản Ngự phê lời tâu của dân xã An Vĩnh về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miễn sưu dịch đã được thánh chỉ ban thưởng vàng và phê "chuẩn cho". Văn bản chép rõ: "Niên hiệu Thái Đức năm đầu đến năm thứ 15 (1778-1792)" và "niên hiệu Cảnh Thịnh năm đầu đến năm thứ 9 (1793-1801). Khi ấy John Barrow là phái viên của phái bộ Macartney đi từ Anh sang Trung Quốc có ghé qua khu vực Đà Nẵng vào tháng 6 năm 1793 (dưới triều vua Quang Toản), trong A Voyage to Cochinchina, in the year 1792-1793 (Một chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, vào những năm 1792-1793) mô tả: "Tàu thuyền xứ Đàng Trong có nhiều kiểu dáng khác nhau, được dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới, thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần đảo gọi là Paracels (Hoàng Sa)".

Từ những tư liệu hiện có, đã xác định được chủ quyền trên các quần đảo ngoài biển Đông dưới thời Tây Sơn. Thời ấy tình hình nước Trung Hoa rất phức tạp, nhiều người chống đối chính quyền Mãn Thanh đã phải phiêu bạt trên biển đông, triều Tây Sơn đã ban nhiều tờ chiếu khuyến dụ lực lượng này quy thuận. Chiếu dụ Tàu Ô viết dưới thời Quang Trung từng vạch rõ: "Họ’’ (dân Tàu) ra vào nơi bể nước (biển Đông), tụ tập đồ đảng lấy việc cướp bóc làm kế sinh nhai, có lẽ cũng là việc bất đắc dĩ, phần vì thiếu miếng ăn nên phải làm vậy, phần vì những chính sách bạo ngược xua đẩy. Quang Trung kêu gọi họ sớm đầu hàng. Và chiều theo sở nguyện của từng người thậm chí chấp thuận cho cả "những người có chí lớn, muốn xông pha nơi ngọn sóng cùng hải đảo". Quy thuận những người Trung Hoa phiêu bạt trên biển Đông và sử dụng họ tham gia vào công việc nhà nước là một chính sách quan trọng và có tính chiến lược của vương triều Tây Sơn lúc ấy.

Sách Thánh Vũ Ký của Ngụy Nguyên (1794-1857) cho biết: Có nhiều người Trung Hoa làm nội ứng cho An Nam, được chúa An Nam Quang Toản phong cho làm Tổng binh hoặc Đông Hải vương: "Triều đình đang bận việc dẹp phía Tây, chưa lo xa đến vùng biển đảo, vì thế mà giặc hoạt động rất táo tợn. Năm đầu niên hiệu Gia Khánh (1796) vị tướng ở Khúc Châu là Khôi Luận, Tổng đốc lưỡng Quảng là Cát Khánh đã nhiều lần tâu vua rằng: bọn giặc biển Tàu Ô là Trần Thiên Bảo đã được An Nam cho làm Tổng binh và cấp cho ấn" (Tr.25b).

Cũng trong cuốn sách này Ngụy Nguyên mô tả "Di thuyền" (thuyền của quân Tây Sơn) cao, to hơn thuyền Trung Hoa, trên đặt nhiều súng, hoành hành lâu năm trên mặt biển và nếu quân nhà Thanh gặp thì cũng khó có thể địch được. Đây là một bằng chứng khẳng định lực lượng hải quân Tây Sơn trong thực tế đã kiểm soát được các tuyến giao thông trên biển và là chủ nhân của các vùng đảo, quần đảo giữa biển Đông.

Thời Nhà Nguyễn

Sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục chính sách tiến ra biển Đông, khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các triều: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị… đã thực thi chủ quyền của mình bằng nhiều hình thức như vãn thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác các hóa vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết. Những đóng góp quan trọng của triều Nguyễn thế kỷ 19 vào lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông là sự tiếp nối chính sách của vương triều Tây Sơn ngày ấy.

Nhà Nguyễn quan tâm đến hoạt động xuất nhập khẩu và kinh tế biển từ rất sớm. Các hoạt động vươn ra biển Đông của nhà Nguyễn thời ấy chính là nhằm khẳng định chủ quyền lãnh hải và khai thác biển đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được ghi chép tương đối đầy đủ, thống nhất trong các bộ sử ký của nhà Nguyễn, cũng như trong các tài liệu của người nước ngoài mà chúng ta thu thập được trong những năm đổi mới và mở cửa hội nhập...

Theo tư liệu lịch sử, Thích Đại Sán là một trong những vị cao tăng người Trung Hoa được chúa Nguyễn mời đến đất Thuận Hóa để truyền kinh Phật. Ông là người đã khai sáng chùa Thiền Lâm vào năm 1695, mở Đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ (Huế), làm cố vấn chính trị cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Ông đến Thuận Hóa bằng đường biển, qua cảng thị Hội An. Khi trở về cố quốc, ông đã viết cuốn Hải ngoại ký sự. Cuốn sách được xem là một cẩm nang đối với giới nghiên cứu. Đọc Hải ngoại ký sự có thể thấy từ thế kỷ 15-17, nhà nước phong kiến Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình trên một vùng lãnh hải rộng lớn, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thông qua các biện pháp: thu thuế tàu thuyền buôn nước ngoài; thiết lập đội hải quân Hoàng Sa, hàng năm ra khai thác hải sản, tìm vớt cổ vật, hàng hóa từ những chiếc tàu bị đắm trên vùng biển này.

Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1726-1784) có 2 đoạn viết về Hoàng Sa: "Ở ngoài núi Cù Lao Ré (tức huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay) có đảo Đại Trường Sa (tức quần đảo Hoàng Sa). Ngày trước, nơi đây thường sản xuất nhiều Hải vật chở đi bán các nơi, nên nhà nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận các hải vật. Người ta phải đi 3 ngày mới đến được đảo Đại Trường Sa ...  Ở trong các hòn đảo có bãi cát vàng, dài chừng hơn 30 dặm, bằng phẳng và rộng lớn, nước trong nhìn suốt đáy. Ở trên các hòn đảo có vô số tổ yến, còn các thứ chim thì kể có hàng ngàn, hàng vạn con... Trên bãi có rất nhiều vật lạ như ốc hoa, có thứ mang tên là ốc tai voi, lớn như chiếc chiếu... Lại có thứ ốc được gọi là ốc xà cừ, thứ ốc này để trang sức các đồ dùng... Có thứ đại mạo là con đồi mồi rất lớn. Có con hải ba (ba ba biển) cũng giống như con đồi mồi nhưng nhỏ hơn, mai mỏng, người ta dùng trang sức các đồ dùng...".

Lê Quý Đôn cho biết, đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vinh (Quảng Ngãi) bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển. Ra đi từ tháng giêng. Ra đảo tự bắt chim, cá làm thức ăn... Đến tháng 8 đội Hoàng Sa trở về cửa Eo (cửa Thuận An) rồi lên thành Phú Xuân trình nộp các sản vật đã khai thác được. Nghiệm thu hải vật xong đội Hoàng Sa được bán riêng những con ốc hoa, mai hải ba, hải sâm. Sau đó các thành viên của đội được trở về nhà. Ngoài đội Hoàng Sa, các chúa Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc hải. Đội Bắc hải không qui định bao nhiêu người. Đội này tàu thuyền nhỏ hơn, hoạt động ở vùng đảo Côn Lôn, ở xứ Cồn Tự thuộc vùng Hà Tiên. Họ chủ yếu khai thác hải sản, ít khi tìm được vàng bạc, đồ vật quý giá từ các tàu đắm như ở Hoàng Sa.

Các công trình: Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; bộ biên niên sử của triều Nguyễn là Đại Nam thực lục (ĐNTL) chính biên và tiền biên; Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ; Đại Nam nhất thống chí... cũng đều có ghi chép về Hoàng Sa giống như Lê Quý Đôn đã miêu tả nhưng cụ thể hơn, tần suất nhiều hơn, nội dung rõ ràng và cụ thể hơn.

Quyển 10 ĐNTL tiền biên chép: "Tháng 7 năm Giáp Tuất (1754) dân đội Hoàng Sa gặp gió to, giạt vào hải phận Quỳnh Châu, thuộc nhà Thanh. Tổng đốc nhà Thanh chu cấp cho lương đầy đủ rồi sai đưa về. Chúa sai viết thư qua...". ĐNTL chính biên quyển 50, 52 cho biết: Năm 1815, 1816 vua (Gia Long) cho thủy quân và đội Hoàng Sa ra  xem xét, đo đạc thủy trình. Quyển 104 chép: "Năm 1833, vua (Minh Mạng) bảo Bộ Công rằng: Dải Hoàng Sa trong hải phận Quảng Ngãi, xa trông trời nước một màu không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị hại. Nay nên dự bị thuyền bè đến sang năm sẽ phái người tới dựng miếu, lập bia, lại trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nhiều mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời vậy".

Quyển 154 chép: "Năm 1835 dựng ‘thần từ’ ở Hoàng Sa... Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh tốt, giữa cồn có giếng, phía tây nam có miếu cổ, có tấm bia khắc 4 chữ Vạn Lý Ba Bình... Năm ngoái vua (Minh Mạng) định lập miếu ở chỗ ấy, vì gặp lúc sóng gió không làm được. Đến nay mới sai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 7 trượng). Bên trái dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong rồi về".

Tác giả Sơn Hồng Đức, giảng viên địa lý học ĐH Văn khoa Sài Gòn, sau khi tham gia chương trình Điều nghiên bình địa hỗn hợp Việt Mỹ đã có bài viết Khảo sát về quần đảo Hoàng Sa. Tác giả cho biết: "Từ Đà Nẵng tàu khởi hành vào buổi chiều, sáng hôm sau là đến Hoàng Sa. Đảo Tri Tôn là điểm đến đầu tiên của hải trình". Ở đảo Hoàng Sa tác giả mục kích: Có vài ngôi mộ binh sĩ thời nhà Nguyễn đã hy sinh. Phía Đông có am thờ gọi là Đền Bà; có pho tượng Quan Âm đặt trên bệ đá chạm trổ tinh vi, có lẽ do các ngư phủ Việt Nam dựng lên. Phía Bắc có ngọn hải đăng. Gần đó trước kia có căn cứ quân sự, đài khí tượng. Đài khí tượng được chính phủ bảo hộ xây dựng và chính thức hoạt động vào năm 1938. Ngày 9-3-1945 quân Nhật cũng đảo chính ở đây, tước khí giới trung đội lê dương. Các công chức đài khí tượng tháo dỡ trần nhà lấy gỗ làm bè thả trôi về tận bờ biển Quy Nhơn. Quân Pháp, rồi quân Nhật đều có xây dựng cơ sở phòng thủ ở đây nên trong chiến tranh thế giới thứ 2 đảo bị không quân của đồng minh oanh tạc.

Các sử liệu và những dấu tích để lại trên quần đảo Hoàng Sa cho thấy tầm nhìn chiến lược cũng như ý chí kiên cường, tinh thần dũng cảm và khát vọng của cha ông chúng ta trong công cuộc khám phá, khai thác kinh tế biển và thực thi chủ quyền lãnh hải.   

Việc Chính phủ cho xây dựng khu bảo tồn di tích Hoàng Sa trong thời điểm hiện nay với nhiều hạng mục như: Phục dựng đình làng An Vĩnh; tôn tạo một số nhà thờ tộc họ của những người lính đội Hoàng Sa trước đây; xây dựng tượng đá; nhà trưng bày các hiện vật liên quan đến lính đội Hoàng Sa... với kinh phí trên 13 tỷ đồng từ nguồn vốn chương trình Biển Đông hải đảo, sẽ giúp các nhà sử học, nhân dân ta và thế giới nhìn đầy đủ hơn về đội lính Hoàng Sa và những ngôi mộ gió. Bởi nó là một phần máu thịt trong lịch sử giữ nước của cha ông trên hòn đảo này.

 

Nguyễn Tấn Tuấn (theo Dư Địa chí Bình Định) 

 

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của VN giai đoạn 1945 -1954

Cập nhật lúc :2:10 PM, 01/07/2011
Kể từ ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chủ quyền toàn bộ lãnh thổ trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lẽ ra phải ngay lập tức thuộc về nhân dân Việt Nam. 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đưa đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2/9/1945 do Chính phủ Hồ Chí Minh lãnh đạo đã chấm dứt thời kỳ Pháp thuộc và sự tồn tại của triều đình phong kiến nhà Nguyễn.

Điều đó khiến cho các cơ sở pháp lý của những hiệp ước do nhà Nguyễn ký kết với Pháp trước đây không còn hiệu lực nữa. Chủ quyền toàn bộ lãnh thổ trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lẽ ra phải ngay lập tức thuộc về nhân dân Việt Nam. Song với nhiều "khúc quanh” của lịch sử, con đường tái lập và tái khẳng định chủ quyền thực sự của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn phải vượt qua nhiều thách thức. Mặc dù vậy, trong bất cứ tình huống nào, người Việt Nam vẫn luôn khẳng định chủ quyền của mình trên hai quần đảo này và luôn được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Quân Pháp chào cờ tại đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc quần đảo Hoàng Sa, Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc.

Trong lúc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang bận rộn đối phó với những hành động gây hấn ngày càng leo thang của quân đội viễn chinh Pháp, ngày 26/10/1946 một hạm đội của Trung Hoa Dân Quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các cơ quan và 59 binh sĩ thuộc trung đội cảnh vệ độc lập của hải quân xuất phát từ cảng Ngô Tùng; ngày 29/11/1946, các chiến hạm Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới quần đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đảo Phú Lâm (Woody); chiến hạm Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa (mà lúc này Trung Quốc gọi là Đoàn Sa, chưa phải là Nam Sa).

Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp này của Trung Hoa Dân Quốc và ngày 17/10/1947 thông báo hạm Tonkinois của Pháp được điều tới Hoàng Sa để yêu cầu quân lính của Tưởng Giới Thạch phải rút khỏi các đảo, nhưng quân Tưởng đã không thực hiện theo yêu cầu. Pháp tiếp tục gửi thêm một phân đội lính trong đó có cả quân lính của Chính phủ Quốc gia Việt Nam đến trú đóng trên đảo Hoàng Sa (Pattle).

Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25-2 đến ngày 4-7-1947 tại Paris. Cuộc đàm phán thất bại vì Trung Hoa Dân Quốc đã từ chối việc nhờ trọng tài quốc tế giải quyết vấn đề do phía Pháp đề xuất. Điều này cho thấy phía Trung Quốc ngay từ thời Tưởng Giới Thạch đã rất không muốn quốc tế hoá vấn đề Biển Đông, vì chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý của họ sẽ không thể thuyết phục được ai nếu buộc phải chứng minh trước trọng tài hay tòa án quốc tế. Ngày 1-12-1947, Bộ Nội vụ chính quyền Tưởng Giới Thạch đơn phương công bố tên Trung Quốc cho hai quần đảo và tự đặt hai quần đảo này thuộc về lãnh thổ Trung Quốc.

Bức tượng Vệ sĩ dân chài trên đảo Hoàng Sa đứng ở phía tây nam đảo Hoàng Sa, có thể xưa kia được đặt trong ngôi miếu cổ khi nhà Nguyễn dựng miếu năm 1835 đã tìm thấy và ghi chép lại trong chính sử.

Theo TS Nguyễn Nhã, trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã giành được độc lập từ năm 1945, không còn ràng buộc vào Hòa ước Giáp Thân (1884) song Pháp cho rằng theo Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn còn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, nên về ngoại giao Pháp vẫn thực thi quyền đại diện cho Việt Nam trong việc chống lại sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bằng Hiệp định ngày 8/3/1949, Pháp dựng lên Chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp do Cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu để củng cố các cơ sở hình thức về pháp lý cho một bộ máy hành chính quốc gia của người Việt Nam tạo thuận lợi cho Pháp trong các quan hệ đối nội, đối ngoại nhân danh quốc gia Việt Nam. Trên thực tế, trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp làm chủ tình hình trên Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 4-1949, Đổng lý Văn phòng của Quốc trưởng Bảo Đại là Hoàng thân Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo tại Sài Gòn đã công khai khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đã có từ lâu đời trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 1/10/1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Tưởng Giới Thạch thua chạy ra đảo Đài Loan. Tháng 4-1950, tất cả quân lính của Tưởng Giới Thạch chiếm đóng bất hợp pháp trên đảo Phú Lâm (Woody), thuộc quần đảo Hoàng Sa phải rút lui. Còn lính Pháp và lính quốc gia Việt Nam ở đảo Hoàng Sa (Pattle) vẫn tiếp tục đồn trú. Ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thủ hiến Trung Phần là Phan Văn Giáo đã chủ trì việc chuyển giao quyền hành ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thủ tướng Nhật bản Yoshida Shigeru kí hòa ước San Francisco.

Tuyên bố công khai đầu tiên của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về yêu sách đối với các đảo ở Biển Đông nằm trong Tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao lúc bấy giờ là Chu Ân Lai ngày 15-8-1951, ba tuần trước khi diễn ra Hội nghị San Francisco. Trung Quốc và Đài Loan đã bị loại khỏi Hội nghị theo thỏa hiệp giữa một bên là Mỹ và Anh còn một bên là Liên Xô khi các nước này không thể thoả thuận được với nhau rằng Trung Quốc hay Đài Loan được chấp nhận tham gia hội nghị. Tuyên bố của Ngoại trưởng Chu Ân Lai cho rằng Trung Quốc "có chủ quyền không thể xâm phạm” đối với các đảo và quần đảo trên Biển Đông, nhưng không đưa ra được bất kỳ bằng chứng lịch sử hay cơ sở pháp lý đáng kể nào.

 Từ ngày 5 đến ngày 8/9/1951, các nước Đồng minh trong Thế chiến thứ 2 tổ chức hội nghị ở San Francisco (Hoa Kỳ) để thảo luận vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á-Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời kỳ hậu chiến. Hòa ước San Francisco ghi rõ Nhật Bản phải từ bỏ mọi quyền lợi và tham vọng với hai quần đảo Paracels (Hoàng Sa) và Spratly (Trường Sa). Hòa ước cũng phủ nhận việc Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa ở phía nam.

Ngày 7/9/1951, tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Quốc gia Việt Nam long trọng tuyên bố trước sự chứng kiến của 51 nước tham dự rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ lâu đời của Việt Nam. Ông Hữu nói: "Việt Nam rất hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật tranh thủ tất cả mọi cơ hội để dập tắt tất cả những mầm móng tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Hội nghị San Francisco năm 1951.

Lời xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam được ghi vào văn kiện của Hội nghị San Francisco (1951) với đa số tán thành và không hề có bất kỳ một phản ứng chống đối hay một yêu sách nào của tất cả các quốc gia tham dự. Việc Chính phủ Quốc gia Việt Nam trong giai đoạn này tham dự Hội nghị San Francisco dưới sự bảo trợ của Chính phủ Pháp và tuyên bố chủ quyền lâu đời với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là sự kiện có ý nghĩa quốc tế quan trọng trong chuỗi các sự kiện minh chứng cho sự xác lập chủ quyền từ rất sớm về pháp lý cũng như về sự chiếm hữu thực tế một cách hòa bình, lâu dài và liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của người Việt Nam.

Dựa trên những tư liệu đã được công bố, có thể khẳng định rằng muộn nhất từ thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 19, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc chủ quyền của người Việt Nam. Đến cuối thế kỷ 19, những hòa ước ký kết giữa Việt Nam với Pháp đã quy định rằng chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương thay mặt triều đình nhà Nguyễn gìn giữ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đó. Đồng thời, chính quyền thuộc địa ở Đông Dương cũng đã thi hành mọi biện pháp để khẳng định sự chiếm hữu theo đúng tập quán quốc tế cũng như các biện pháp quản lý hành chính đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đến giữa thế kỷ 20, tuy một số đảo của Hoàng Sa và Trường Sa bị quân đội Nhật Bản tạm thời chiếm đóng từ năm 1939 đến năm 1946 nhưng với Hòa ước San Francisco (1951), Chính phủ Nhật Bản đã chính thức tuyên bố từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với hai quần đảo này. Do đó, Việt Nam tất nhiên đã khôi phục lại được chủ quyền vốn có của mình đối với hai quần đảo đó trên cơ sở luật pháp quốc tế. Giá trị pháp lý về tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco không những được khẳng định đối với các quốc gia tham dự Hội nghị mà còn đối với những quốc gia cũng như các chính quyền không tham dự bởi những ràng buộc của Tuyên cáo Cairo và Tuyên bố Potsdam.

Việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco rõ ràng là sự tái lập, tái khẳng định một sự thật lịch sử đã có từ lâu đời và nay vẫn đang tiếp diễn. Hơn nữa, Hội nghị Geneve năm 1954 bàn về việc chấm dứt chiến tranh Đông Dương với sự tham gia của những quốc gia không có mặt tại Hội nghị San Francisco cũng đã tiếp tục tuyên bố cam kết tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo Đại Đoàn Kết

Nhà Nguyễn 'chăm sóc' Hoàng Sa

Cập nhật lúc :2:54 PM, 22/06/2011
Trong thời gian nhà Nguyễn (cả thời chúa và vua Nguyễn sau này) trị vì, chủ quyền biển đảo là việc được hết sức coi trọng. Điều đó thể hiện rõ trong các sách chính sử của triều Nguyễn.
 

Lập hải đội Hoàng Sa  

Sách “Đại Nam thực lục tiền biên”, quyển 10, trang 24 (chữ Hán) đời Thế tông Hiếu Vũ Hoàng đế (tức chúa Nguyễn Phúc Khoát) năm thứ 16 (1754) chép: “Mùa thu, tháng 7, dân đội Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi thuyền ra đảo Hoàng Sa, gặp gió dạt vào hải phận Quỳnh Châu nước Thanh. Tổng đốc Thanh hậu cấp cho rồi cho đưa về. Chúa sai viết thư cám ơn. Ở ngoài biển, về xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, có hơn 130 bãi cát cách nhau hoặc đi một ngày đường, hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy nghìn dặm, tục gọi là “Vạn lý Hoàng Sa”. Trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích, ba ba...

 

Bản dập mộc bản phản ánh triều đình sai Võ Văn Phú mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa

Buổi quốc sơ đặt đội Hoàng Sa 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hằng năm, đến tháng 3 thì đi thuyền ra Hoàng Sa, độ ba đêm ngày thì đến bãi, tìm lượm hóa vật, đến tháng 8 thì về nộp. Lại có đội Bắc Hải, mộ người ở thôn Tứ Chánh thuộc Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, sai đi thuyền nhỏ đến các xứ Bắc Hải, Côn Lôn (tức Côn Đảo ngày nay), để tìm lượm hóa vật; đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.

Về mặt tổ chức, phiên chế đội ngũ, đội Hoàng Sa là một tổ chức dân binh vừa mang tính dân sự vừa mang tính quân sự, vừa mang tính tư nhân vừa mang tính nhà nước, vừa có chức năng kinh tế, vừa có chức năng quản lý thời ấy ở Biển Đông, ra đời từ đầu thời chúa Nguyễn trong hoàn cảnh tay cầm cuốc, tay cầm gươm để mở đất khai hoang. Kể từ khi được thành lập vào thời chúa Nguyễn cho đến khi nhà Nguyễn thống nhất đất nước thì hải đội Hoàng Sa vẫn hoạt động nhằm bảo vệ vùng biển đảo, đặc biệt là Hoàng Sa và Trường Sa.

Về lịch hoạt động ở ngoài đảo, theo những tài liệu như Dư địa chí, Hoàng Việt địa dư chí, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí… hàng năm đội Hoàng Sa bắt đầu đi từ tháng 3 âm lịch đến tháng 8 âm lịch thì về. Và khi về đội Hoàng Sa phải báo cáo với triều đình về những việc làm trong thời gian trên biển.

Sách Đại Nam thực lục tiền biên phản ánh việc cho lập đội Hoàng Sa từ thời chúa Nguyễn.

Cho người vẽ bản đồ Hoàng Sa

Một trong những việc mà vương triều Nguyễn rất chú trọng là việc vẽ bản đồ Hoàng Sa. Không những đội Hoàng Sa có nhiệm vụ này mà ngay cả thuyền buôn của các nước nếu vẽ được bản đồ Hoàng Sa cũng được triều đình trọng thưởng.

Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ”, quyển 55, năm Gia Long thứ 16 (1817) chép: “Tháng 6, thuyền Mã Cao đậu Đà Nẵng, đem địa đồ đảo Hoàng Sa dâng lên. Thưởng cho 20 lạng bạc”.

Trong những lần ra Hoàng Sa, hải đội Hoàng Sa ngoài việc vẽ bản đồ, thăm dò đường biển... còn có nhiệm vụ khai thác những sản vật tại Hoàng Sa về đem dâng lên triều đình và báo cáo tình hình tại Hoàng Sa.

Mộc bản triều Nguyễn sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 122, trang 23, năm Minh Mạng thứ 15 (1814) chép: “Tháng 3, sai Giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ. Khi trở về, vua hỏi về những thứ sản vật ở đấy, Sĩ tâu: Nơi này là bãi cát giữa bể, man mác không bờ, có nhiều thuyền các nước qua lại. Nhân đem dâng vua những thứ chim, cá, ba ba, ốc, sò ngao, đã bắt được ở nơi đó, đều là những vật lạ, ít thấy”. Vua cho trọng thưởng.

Từ việc đội Hoàng Sa phải trình tâu và dâng những sản vật lên triều đình sau những lần công cán trở về cho thấy rằng vương triều Nguyễn có chủ quyền rõ ràng với quần đảo này. Việc phòng thủ cũng như khai thác sản vật ở Hoàng Sa cũng đã chứng minh đó không phải là việc riêng của bộ phận nào, mà đó là việc chung của cả vương triều.

Mộc bản triều Nguyễn phản ánh việc vua Minh Mạng thưởng cho phái đoàn của Đỗ Mậu Thưởng khi từ Hoàng Sa trở về.

Thưởng phạt những người đi công cán Hoàng Sa

Dưới thời Nguyễn, hằng năm triều đình vẫn thường cử những phái đoàn ra công cán ở quần đảo Hoàng Sa. Có những đoàn trên đường ra Hoàng Sa bị bão cuốn trôi thuyền. Nhiều đoàn thực hiện tốt công việc đã được triều đình trọng thưởng, nhưng cũng có những đoàn không tuân theo ý chỉ của triều đình đã bị phạt.

Mộc bản triều Nguyễn sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 194, trang 7 và 8, năm Minh Mạng 20 (1839) chép: “Tháng 7, Viên ngoại lang Công bộ Đỗ Mậu Thưởng vâng lệnh phái đi công cán Hoàng Sa về, đem bản đồ dâng lên, vua cho là trải qua nhiều nơi, xem đo tường tất so với phái viên mọi lần thì hơi hơn. Đỗ Mậu Thưởng và các người đi cùng đều được gia thưởng áo quần và tiền”.

Mộc bản triều Nguyễn sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 204, trang 3 và 4, năm Minh Mạng 20 (1839) chép: “Tháng 7, Phái viên đi Hoàng Sa là bọn Suất đội Thuỷ sư Phạm Văn Biện trước đây bị bão sóng làm tản mát, đến nay lục tục về tới Kinh. Hỏi, chúng nói nhờ có thuỷ thần cứu giúp. Vua sai bộ Lễ chọn địa điểm ở đồn cửa biển Thuận An đặt đàn dùng lễ Tam sinh hướng ra biển lễ tạ. Thưởng tiền cho Phạm Văn Biện và viên biền binh, dân đi theo phái đoàn có thứ bậc khác nhau”.

Tuy nhiên, có những đoàn khi ra Hoàng Sa không hoàn thành nhiệm vụ khi về kinh sẽ bị triều đình xử phạt. Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ”, quyển 49, năm Thiệu Trị năm thứ 5 (1845), chép: “Tháng 7, Ngũ đẳng thị vệ Nguyễn Hoán được phái đi đến Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi, tự tiện quấy rối các làng. Người cùng phái đi nêu ra để hặc. Hoán phải tội lưu đến hết bậc”.

Từ việc triều đình phạt Nguyễn Hoán vì tội quấy rối các làng ở Hoàng Sa cho thấy rằng, đến thời vua Thiệu Trị, nhà Nguyễn đã cho di dân ra Hoàng Sa.

 

Theo Beenet

Tư liệu cổ Trung Quốc không hề có biển Nam Trung Hoa

Cập nhật lúc :10:27 AM, 09/07/2011
Trong các bản đồ mà chính người Trung Quốc vẽ hàng trăm năm trước chưa hề thấy xuất hiện tên gọi biển Nam Trung Hoa. Trung Quốc đã lợi dụng cách gọi tên của phương Tây để nhập nhằng "đường lưỡi bò" trên biển Đông. Trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu của nhà sử học Nguyễn Đình Đầu.
Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích: Giao Chỉ là tên gọi do các triều đại phong kiến Trung Quốc dùng chỉ người và nước Việt Nam xưa. Thời Hùng Vương, Giao Chỉ là một trong 15 bộ của nước Văn Lang… Các triều đại phong kiến Trung Quốc sau này nhiều khi vẫn dùng tên Giao chỉ cũng như tên An Nam để chỉ quốc gia và nhân dân Đại Việt. Trong nhiều văn bản và bi ký, tên Giao Chỉ vẫn còn chỉ nước ta tới hết thế kỷ XIX.

Biển Giao Chỉ

Trên hai trang 11b và 12a trích từ sưu tập bản đồ Võ bị chí (ghi lại cuộc hành trình của Trịnh Hòa trong thời gian 1405-1433 đi từ Trung Quốc qua Ấn Độ dương tới Phi Châu) có vẽ nước ta tuy đơn giản nhưng cũng rõ ràng: Nước Giao Chỉ bắc giáp Khâm Châu Trung Quốc, nam giáp nước Chiêm Thành, đông giáp biển cả mang tên Giao Chỉ dương, tức biển của nước Giao Chỉ. Đây là tư liệu của Trung Hoa khắc vẽ về nước ta và biển cả thuộc về nước ta từ thế kỷ XV.

Năm 1842, tác giả người Trung Hoa - Ngụy Nguyên xuất bản sách Hải quốc đồ chí mô tả và khắc vẽ bản đồ tất cả các nước trên thế giới và toàn thể năm châu bốn bể, theo phương pháp khoa học với kinh tuyến và vĩ tuyến. Trong sách này, Ngụy Nguyên đã vẽ hai bản đồ về Việt Nam. Trong đó, bản đồ thứ nhất vẽ sơ sài, chia nước ta ra hai phần (Việt Nam Đông đô và Việt Nam Tây đô). Ở ngoài khơi phía đông hai phần Việt Nam, Ngụy Nguyên ghi rõ là Đông Dương đại hải, tức biển Đông rất lớn.

Bản đồ 1, nước Giao Chỉ với Giao Chỉ dương, trích từ bộ Võ bị chí. (Ảnh chụp lại từ tư liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu)
Bản đồ 1, nước Giao Chỉ với Giao Chỉ dương, trích từ bộ Võ bị chí. (Ảnh chụp lại từ tư liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu)

Cũng trong tác phẩm Hải quốc đồ chí, Ngụy Nguyên còn khắc vẽ bản đồ An Nam quốc với đường nét đúng kinh tuyến và vĩ tuyến rất rộng lớn. Ngoài khơi nước An Nam có ghi rõ Đông Nam hải, tức là biển Đông Nam.

Rõ ràng, hầu hết bản đồ Trung Hoa vẽ về Việt Nam từ thế kỷ XV hoặc trước nữa cho tới đầu thế kỷ XX đều ghi biển cả phía đông Việt Nam là Giao Chỉ dương hay Đông Dương đại hải hoặc Đông Nam hải, đều có nghĩa là biển của Giao chỉ (tức Việt Nam) hay đơn giản là biển Đông (của Việt Nam).

Việt Nam thực thi liên tục chủ quyền của mình

Như chúng ta biết, ít nhất từ đầu thế kỷ XVII Việt Nam đã thi hành chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở giữa biển Đông một cách chính thức, liên tục và không hề thấy một quốc gia hay dân tộc nào đến khiếu nại hay tranh giành. Từ khi chiếm nước ta làm thuộc địa, Pháp đã nhân danh Việt Nam thi hành chủ quyền ấy đúng công pháp quốc tế. Pháp đã xây dựng hai trạm khí tượng theo hệ thống quốc tế trên đảo Hoàng Sa và đảo Ba Bình trong quần đảo Trường Sa.

Năm 1947, chính phủ Trung Hoa dân quốc đưa ra yêu sách về chủ quyền biển Đông theo “đường lưỡi bò gồm 11 khúc đứt đoạn”. Năm 1949, chính quyền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng yêu cầu tương tự nhưng không quyết liệt, quốc tế coi như làm ngơ. Ngày 14/10/1950, tại Hội nghị ký hòa ước San Francisco (Liên Hiệp Quốc), Thủ tướng Trần Văn Hữu của chính quyền Bảo Đại do Pháp bảo trợ đã tuyên bố: “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”…

Bản đồ 3, An Nam quốc với biển Đông Nam hải, trích Hải quốc đồ chí. (Ảnh chụp lại từ tư liệu của Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu)
Bản đồ 3, An Nam quốc với biển Đông Nam hải, trích Hải quốc đồ chí. (Ảnh chụp lại từ tư liệu của Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu)
Những bước leo thang trên biển Đông

Ngày 15/1/1974, Trung Quốc đem quân đến đánh chiếm các đảo Hoàng Sa. Dưới thời của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Trung Quốc đem thủy quân hùng hậu đánh chiếm một số đảo trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam (năm 1988).

Ngày 21/2/1992, Trung Quốc ra quy định biển Đông thuộc lãnh hải tỉnh Hải Nam, theo bản đồ với những “đường cắt khúc chín đoạn” chiếm hầu hết biển Đông, thâu tóm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Trung Quốc đã chính thức trình lên Liên Hiệp Quốc bản đồ “đường lưỡi bò” vào năm 2009. Việt Nam và các nước liên quan đã phản đối sự phi lý, không phù hợp với luật pháp quốc tế của “đường lưỡi bò” này.

Mấy tháng gần đầy, Trung Quốc ngang nhiên cấm đánh cá trên biển Đông, xâm phạm vào cả vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Gần đây nhất, Trung Quốc có hành động ngang ngược là gây hấn với các tàu thăm dò dầu khí hay các chương trình nghiên cứu khác về biển. Những hành vi gây hấn này được Trung Quốc tiến hành trong phạm vi “đường lưỡi bò”, mặc dù đường ranh giới này vi phạm Công ước quốc tế về Luật Biển 1982 của Liên Hiệp Quốc.

Phải khẳng định rằng những hành vi của Trung Quốc là sai trái, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, xâm phạm trắng trợn vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Việc gọi tên biển Nam Trung Hoa không có nghĩa đó là biển của Trung Quốc và Trung Quốc có quyền thực thi chủ quyền xâm phạm cả vào vùng biển của các nước khác được xác lập theo đúng Công ước quốc tế về luật biển 1982.

Theo Đất Việt

RSS

Hiểu về trái timNếu bạn chưa biết cách sử dụng chức năng nào trên NHÀ, bấm vào đây...

Hỗ trợ trực tuyến (Mr Hải CB34) Bạn hãy login Yahoo! Messenger trước khi bấm vào đây để trao đổi
Visitors:Cựu SVTS

Latest Activity

Trịnh Minh Lượng left a comment for Huỳnh Bá Phúc
"Chao Phuc, khoe chu, vo con sao roi?"
yesterday
Nguyễn Thị Minh Tân posted discussions
yesterday
Huỳnh Bá Phúc replied to Phan Công Lý's discussion CL-40 Mãi mãi là một kỷ niệm không thể thiếu trong mỗi thành viên từng gắn bó và tạo nên in the group CK-ĐỘNG LỰC 40 (CL-40)
"Chào cả nhà, còn nhớ Huỳnh Bá Phúc này không?…"
yesterday
Huỳnh Bá Phúc joined Nguyễn Văn Phái's group
yesterday
Huỳnh Bá Phúc joined Trịnh Minh Lượng's group
Thumbnail

Cơ khí Tàu thuyền 40

Fisheries University-TT 40See More
yesterday
Profile IconHuỳnh Bá Phúc, Mai Thị Hiền and Thanh Hồng joined NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
yesterday
Mai Thị Hiền replied to TRẦN THỊ THANH TOÀN's discussion TUYỂN DỤNG NHÂN VIÊN HỌC CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
"C ơi, hiện giờ công ty còn tuyển nhân viên không ạ? "
Thursday
mai thị ngọc trâm joined Bùi Văn Hải's group
Thumbnail

CLB Yêu Chất lượng (Do Better Club)

Nếu bạn nghĩ Chất Lượng chỉ dành cho QC, SX thì hãy nghĩ lại nếu bạn thực sự muốn có sự phát triển…See More
Tuesday
mai thị ngọc trâm replied to Bùi Văn Hải's discussion Yêu cầu tài liệu - sách tham khảo
"chào cả nhà! Em thiết lập hệ thống haccp nhưng bước đầu em  chưa biết làm…"
Tuesday
huy hoàng commented on Nguyễn Thị Hạnh's group Cao đẳng chế biến 42
Tuesday
huy hoàng commented on Nguyễn Thị Hạnh's group Cao đẳng chế biến 42
"CON  MÌNH ĐÓ "
Tuesday
huy hoàng commented on Nguyễn Thị Hạnh's group Cao đẳng chế biến 42
Tuesday
huy hoàng commented on Nguyễn Thị Hạnh's group Cao đẳng chế biến 42
"SỐ CUẢ HOÀNG:01687744026,HIỆN GIO HOÀNG LÀM CHO MINH PHÚ CÁC BẠN…"
Tuesday
huy hoàng commented on Nguyễn Thị Hạnh's group Cao đẳng chế biến 42
Tuesday
huy hoàng commented on Nguyễn Thị Hạnh's group Cao đẳng chế biến 42
Tuesday
huy hoàng commented on Nguyễn Thị Hạnh's group Cao đẳng chế biến 42
"HUY HOÀNG CCB42-1!CHÀO CÁC BẠN! CHÚC BẠN MỌI VIỆC TỐT LÀNH"
Tuesday
huy hoàng joined Nguyễn Thị Hạnh's group
Thumbnail

Cao đẳng chế biến 42

Cao đẳng chế biến 42See More
Tuesday
huy hoàng shared a profile on Facebook
Monday
huy hoàng left a comment for NGUYỄN NGỌC HIẾU
"HUY HOÀNG LÂM ĐỒNG MỚI VÀO DIỄN ĐANG NGHE CÁC BẠN FACE CỦA…"
Monday
huy hoàng is now a member of NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Monday

© 2014   Created by Bùi Văn Hải.

Badges  |  Report an Issue  |  Terms of Service

Follow Us Follow Us Smilies
Mời xem: Tại sao PLC bị đàn áp ở TQ?
Mời xem: Điều kiện để làm Admin và duy trì NHÀ CSV