http://photo.ipvnn.com/files/2010/Phong-Thuy/23164711-1.gif

Hỏi: Có lúc người ta dùng từ "cara" để nói về tuổi vàng (24k), nhưng khi nói viên kim cương nặng 4 cara thì có nghĩa gì? Nguyễn Minh Vân (Liễu Giai, Hà Nội)


Theo anh Nguyễn Minh Hoàng, Công ty Vàng bạc Đá quý Hạ Long: Cara là đơn vị đo khối lượng, sử dụng trong ngành đá quý, 1 cara tương đương với 200 miligam. Cũng có cách phát âm giống như Cara, nhưng Kara, viết tắt là K, được sử dụng trong ngành kim hoàn, là đơn vị đo lường độ tinh khiết của các kim loại quý hay các hợp kim của chúng, chẳng hạn như vàng.

Với ý nghĩa này, một kara bằng 1/24 độ tinh khiết tính theo trọng lượng, như vậy vàng 24K là vàng tinh khiết. Độ tinh khiết cũng có thể được biểu diễn theo thang phần nghìn, 24K tương đương 99,99%. 

Theo BEE

 http://sjchanoi.com.vn/Upload/Sanpham/quatang/DSC03264%20copy.jpg

Một số cách quy đổi và tính tuổi vàng

1. Phương pháp tính tuổi vàng.

- Tính tuổi theo Cara (viết 24 Cara hay 24K): Đây là phương pháp tính độ tinh khiết.

Đó là: (Tỷ số giữ khối lượng vàng trong hợp kim)/ (Tổng khối lượng hợp kim) = 24 K

Trong đó 1 cara = 1/24 = 0,0417.

- Tính tuổi theo đơn vị%: 99,99 tuổi = 24K hay 10 tuổi (vàng 10).

tương ứng 98 = 23,5K = 9,8 tuổi,…

2. Đơn vị vàng thường dùng: Chỉ, cây, lượng, Kg, Ounce…

-VN: 10 chỉ = 01 cây = 1 lượng = 37,5 gram

-Thế giới vàng được đo lường theo hệ thống troy, Troy ounce: dùng để đo khối lượng của kim loại quý (vàng, bạc, bạch kim). Ngoài ra còn có 1 avoirdupois ounce = 28.3495 gram.

Trong đó: 1 troy ounce = 31.1035 gram

Quy đổi: 1 troy ounce = 0.8294 lượng(thường nói trên báo đài ounce là troy ounce đó)

3. Phương pháp thu hồi vàng:

Có nhiều phương pháp thu hồi vàng: tuyển trọng lực, tuyển nổi, xyanua, clo hoá, nấu luyện…

- Công nghệ Xyanua hoá vàng: Năm 1864 Elsen phát hiện vàng có khả năng hoà tan trong xyanua kiềm (KCN, NaCN) khi có mặt ôxy và ông đã đưa ra ba bước để thu hồi vàng trong quặng chứa vàng. Quặng chứa vàng liên quan đến các đá Granitoit, đá kiềm, bazơ, siêu bazơ… trong đó có các khoáng vật: Electrova, Coproanrit, Rodit, Pocfezit,…

- Phương pháp hỗn hống: Là phương pháp thu hồi vàng dựa trên khả năng thấm chọn lọc những hạt vàng của thuỷ ngân. Khi tiếp xúc với bùn quặng, thuỷ ngân gom các hạt vàng lại và tạo với nó một hỗn hợp gọi là amalgam. Thuỷ ngân giữ vàng sạch là tốt hơn cả, vì vậy trước khi hỗn hống, bề mặt hạt vàng được làm sạch bằng ma sát hoặc bằng dung dịch axit Sunfuric loãng(3%) thì sự kết hợp của thuỷ ngân và vàng sẽ tốt hơn rất nhiều.

- Tuyển trọng lực: Dựa vào tỉ trọng của vàng trong quặng áp dụng phương pháp tuyển trọng lực. Quặng chứa vàng được nghiền để thu hỗn hợp những hạt vàng lớn và một phần những hạt vàng nhỏ.

– Tuyển nổi: Đây là phương pháp thu hồi vàng năng xuất cao hất là quặng chứa vàng sunfua. Các chất đè chìm đối với vàng thường là Xyanua natri sunfua, Kiềm, Đồng sunfat, thuỷ tinh lỏng, tinh bột,…

4.Trữ lượng vàng

Trữ lượng vàng hiện còn lại ở Nam Phi ước tính chiếm khoảng 40% tổng sản lượng vàng thế giới, gấp khoảng ba lần trữ lượng vàng của cả Mỹ và Ôxtrâylia gộp lại.
Theo vnexi
 

Một số cách quy đổi và tính tuổi vàng

1. Phương pháp tính tuổi vàng.

- Tính tuổi theo Cara (viết 24 Cara hay 24K): Đây là phương pháp tính độ tinh khiết.

Đó là: (Tỷ số giữ khối lượng vàng trong hợp kim)/ (Tổng khối lượng hợp kim) = 24 K

Trong đó 1 cara = 1/24 = 0,0417.

- Tính tuổi theo đơn vị%: 99,99 tuổi = 24K hay 10 tuổi (vàng 10).

tương ứng 98 = 23,5K = 9,8 tuổi,…

2. Đơn vị vàng thường dùng: Chỉ, cây, lượng, Kg, Ounce…

-VN: 10 chỉ = 01 cây = 1 lượng = 37,5 gram

-Thế giới vàng được đo lường theo hệ thống troy, Troy ounce: dùng để đo khối lượng của kim loại quý (vàng, bạc, bạch kim). Ngoài ra còn có 1 avoirdupois ounce = 28.3495 gram.

Trong đó: 1 troy ounce = 31.1035 gram

Quy đổi: 1 troy ounce = 0.8294 lượng(thường nói trên báo đài ounce là troy ounce đó)

3. Phương pháp thu hồi vàng:

Có nhiều phương pháp thu hồi vàng: tuyển trọng lực, tuyển nổi, xyanua, clo hoá, nấu luyện…

- Công nghệ Xyanua hoá vàng: Năm 1864 Elsen phát hiện vàng có khả năng hoà tan trong xyanua kiềm (KCN, NaCN) khi có mặt ôxy và ông đã đưa ra ba bước để thu hồi vàng trong quặng chứa vàng. Quặng chứa vàng liên quan đến các đá Granitoit, đá kiềm, bazơ, siêu bazơ… trong đó có các khoáng vật: Electrova, Coproanrit, Rodit, Pocfezit,…

- Phương pháp hỗn hống: Là phương pháp thu hồi vàng dựa trên khả năng thấm chọn lọc những hạt vàng của thuỷ ngân. Khi tiếp xúc với bùn quặng, thuỷ ngân gom các hạt vàng lại và tạo với nó một hỗn hợp gọi là amalgam. Thuỷ ngân giữ vàng sạch là tốt hơn cả, vì vậy trước khi hỗn hống, bề mặt hạt vàng được làm sạch bằng ma sát hoặc bằng dung dịch axit Sunfuric loãng(3%) thì sự kết hợp của thuỷ ngân và vàng sẽ tốt hơn rất nhiều.

- Tuyển trọng lực: Dựa vào tỉ trọng của vàng trong quặng áp dụng phương pháp tuyển trọng lực. Quặng chứa vàng được nghiền để thu hỗn hợp những hạt vàng lớn và một phần những hạt vàng nhỏ.

– Tuyển nổi: Đây là phương pháp thu hồi vàng năng xuất cao hất là quặng chứa vàng sunfua. Các chất đè chìm đối với vàng thường là Xyanua natri sunfua, Kiềm, Đồng sunfat, thuỷ tinh lỏng, tinh bột,…

4.Trữ lượng vàng

Trữ lượng vàng hiện còn lại ở Nam Phi ước tính chiếm khoảng 40% tổng sản lượng vàng thế giới, gấp khoảng ba lần trữ lượng vàng của cả Mỹ và Ôxtrâylia gộp lại
Theo vnexi

Tags: 18k, 24k, cara

Views: 1760

Reply to This

Replies to This Discussion

 

Những điều cần biết về Vàng

1/ Vàng là gì và tại sao nó lại có ký hiệu hoá học là Au?
    Vàng là một nguyên tố kim loại hiếm, có độ nóng chảy là 1.0640C và độ sôi là 28080C. Au là ký hiệu hoá học của vàng, là chữ viết tắt của vàng theo tiếng Lating, “aurum” với nghĩa chính xác là “Bình minh đỏ”. Trong suốt thời gian tồn tại vàng có một số đặc tính thực sự hữu ích đối với con người, trong đó đáng chú ý là đặc tính dẫn điện, dẫn nhiệt tốt, không chịu phản ứng của nước và oxy.
2/ Từ “Vàng” (gold) có nguồn gốc từ đâu?
    Từ “Vàng” có nguồn gốc từ màu vàng (yellow) trong hệ ngôn ngữ Ấn – Âu, thể hiện một trong số các đặc tính vốn có của vàng là màu vàng. Điều này phản ánh sự tương đồng của từ “Vàng” (gold) trong các ngôn ngữ khác nhau như: Gold (Anh), Gold (Đức), Guld (Đan mạch), Gulden (Hà Lan), Goud(Afrikan), Gull(Nauy), và Kulta(Phần Lan).
3/ Tại sao đơn vị đo lường của “Vàng” lại được tính bằng cara?   Điều này có nguồn gốc từ thời xa xưa ở Địa Trung Hải / Trung Đông, khi một cara được sử dụng như một đơn vị đo lường độ tinh khiết của vàng ngày nay cũng đồng nghĩa với tuổi vàng.Ví dụ người ta lấy các phần của một nghìn để đo độ tinh khiết cũng như tuổi vàng như sau: 18 Cara là 18/24 phần một nghìn = 750 chỉ số độ tuổi.
4/ 1Cara là cái gi? 
          Một Cara (Kara theo tiếng Mỹ và tiếng Đức) có nguồn gốc từ một đơn vị trọng lượng của hạt Carob(được dùng thay cho Socola) được các nhà thương gia ở Trung Đông cổ xưa sử dụng để trao đổi, buôn bán. Hạt Carod được lấy từ cây Carod hay các cây họ đậu. Cara cũng được sử dụng để đo trọng lượng của các loại đá quý (1Cara tương ứng khoảng 200mg đá quý). Đối với vàng Cara được dùng để đo độ tinh khiết và vàng tinh khiết tương đương với 24 cara. 
    Người ta không rõ sự thay đổi về thuật ngữ Cara diễn ra như thế nào và vào khi nào, nhưng điều này thực sự liên quan đến những người La Mã - những người sử dụng cái tên Siliqua Graeca(Keration theo tiếng Hy Lạp, Qirat theo tiếng A Rập và ngày nay là Cara) đặt cho hat Carod. Bên cạnh đó, người La Mã còn dùng tên Siliqua đặt cho một đồng bạc nhỏ có giá trị bằng 1/24 đồng tiền vàng La Mã cổ. Ngày nay, 1Siliqua có khối lượng là 4,54gr, do vậy Siliqua có giá trị xấp xỉ với khối lượng của một Keration hay Siliqua Graeca của vàng. Giá trị 1/24 của một đồng tiền Vàng La Mã cổ bằng khoảng 1 Keration hay gọi cách khác nó chính bằng 1 Cara.

Theo Kimtin

Tổng Quan Về Vàng

 

Vàng là một loại khoáng sản quí, có những tính chất đặc biệt, mầu vàng và rất bền vững trong thiên nhiên nên được sử dụng từ lâu, trở thành một loại hàng hoá, là báu vật, là nguồn dự trữ. Phạm vi sử dụng của vàng rất rộng rãi, không chỉ trong công nghiệp mà còn trong đời sống xã hội. Tuy nhiên việc hiểu biết về vàng của mọi người còn hạn chế, không phải ai cũng hiẻu biết về vàng: tuổi của vàng, cách phân loại, công nghệ thu hồi,… Trong bài viết này tôi xin giới thiệu một số kiến thức cơ bản về vàng để mọi người tham khảo:

Vàng tên la tinh: aurum, ký hiệu au, là nguyên tố hoá học nhóm I hệ thống tuần hoàn Mendêlêép, số thứ tự 79, khối lượng nguyên tử 197,967. Hàm lượng trong vỏ trái đất chiếm 4,3 x 10E-7% khối lượng, là kim loại mầu vàng, dễ dát mỏng và kéo dài nhất so với tất cả các kim loại, có thể dát thành tờ mỏng 1.10E-5mm. Vàng có độ dẫn điện cao, là thành phần của nhiều hợp kim có độ nóng chảy thấp hơn, nhưng độ cứng thì cao hơn vàng. Vàng được dùng chủ yếu để chế tác đồ trang sức và tích trữ tiền tệ, dùng trong các ngành kỹ thuật cao.

1. Phương pháp tính tuổi vàng.

- Tính tuổi theo Cara (viết 24 Cara hay 24K): Đây là phương pháp tính độ tinh khiết (100% của vàng).

Đó là: (Tỷ số giữ khối lượng vàng trong hợp kim)/ (Tổng khối lượng hợp kim) = 24 K (tuổi là 1) 

Trong đó 1 cara = 1/24 = 0,0417.

- Tính tuổi theo đơn vị%: 99,99 tuổi = 24K hay 10 tuổi (vàng 10).

tương ứng 98 = 23,5K = 9,8 tuổi,…

2. Đơn vị vàng thường dùng: 

1 Ounce ~ 8.3 chỉ ~ 31.103 gram
1 ct ~ 0.053 chỉ ~ 0.2 gram
1 lượng = 1 cây = 10 chỉ =37.5 gram.
1 chỉ = 10 phân = 3.75 gram.
1 phân = 10 ly = 0.375 gram.
1 ly = 10 zem = 0.0375 gram.
1 zem= 10 mi = 0.00375 gram.

3. Phương pháp thu hồi vàng: Có nhiều phương pháp thu hồi vàng: tuyển trọng lực, tuyển nổi, xyanua, clo hoá, nấu luyện…

- Công nghệ Xyanua hoá vàng: Năm 1864 Elsen phát hiện vàng có khả năng hoà tan trong xyanua kiềm (KCN, NaCN) khi có mặt ôxy và ông đã đưa ra ba bước để thu hồi vàng trong quặng chứa vàng. Quặng chứa vàng liên quan đến các đá Granitoit, đá kiềm, bazơ, siêu bazơ… trong đó có các khoáng vật: Electrova, Coproanrit, Rodit, Pocfezit,… 

- Phương pháp hỗn hống: Là phương pháp thu hồi vàng dựa trên khả năng thấm chọn lọc những hạt vàng của thuỷ ngân. Khi tiếp xúc với bùn quặng, thuỷ ngân gom các hạt vàng lại và tạo với nó một hỗn hợp gọi là amalgam. Thuỷ ngân giữ vàng sạch là tốt hơn cả, vì vậy trước khi hỗn hống, bề mặt hạt vàng được làm sạch bằng ma sát hoặc bằng dung dịch axit Sunfuric loãng(3%) thì sự kết hợp của thuỷ ngân và vàng sẽ tốt hơn rất nhiều.

Hiệu quả của phương pháp hỗn hống phụ thuộc vào kích thước của hạt vàng trong quặng và trạng thái bề mặt của chúng. Đối với những hạt vàng nhỏ tác dụng sẽ kém do không đủ lực va đập giữa hạt vàng và các hạt thuỷ ngân và do xác suất của chúng gặp nhau ít hơn .

- Tuyển trọng lực: Dựa vào tỉ trọng của vàng trong quặng áp dụng phương pháp tuyển trọng lực. Quặng chứa vàng được nghiền để thu hỗn hợp những hạt vàng lớn và một phần những hạt vàng nhỏ.

- Tuyển nổi: Đây là phương pháp thu hồi vàng năng xuất cao nhất là quặng chứa vàng sunfua. Các chất đè chìm đối với vàng thường là Xyanua natri sunfua, Kiềm, Đồng sunfat, thuỷ tinh lỏng, tinh bột,…

4. Các kiểu quặng chứa vàng của Việt Nam: Có 4 loại chính.

- Vàng gốc: Thạch anh vàng; Thạch anh sunfua vàng; Sunfua vàng; Vàng bạc.

- Vàng cộng sinh: kim loại mầu chứa vàng; Đất hiếm chứa vàng; Một số đá chứa vàng.

- Vàng biểu sinh: Vàng phân bố trong các lớp đất đá trong vỏ trái đất nhất là ở vùng có đá ong.

- Vàng sa khoáng do quá trình phong hoá đất đá (Thời gian, áp suất, nước…) vàng trong đá gốc được pha loãng và lắng đọng tập trung thành mỏ vàng sa khoáng.

Các khoáng vật chủ yếu chứa vàng là tự sinh, Electrum, Claverit, Enđônit, Krennerit, Silvanit, petzit, Hagyagit, Pisataerit (Vàng tham gia vào trên 3.000 khoáng vật)

* Dự báo trữ lượng vàng ở Việt Nam: Khoảng 3.000 tấn, dự báo cấp C2 + P1 xấp xỉ 281 tấn.

1. Đơn vị đo lường và Cách qui đổi giá vàng thế giới và vàng trong nước

- Các đơn vị đo lường của Vàng: Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, khối lượng của vàng được tính theo đơn vị làcây (lượng hay lạng) hoặc là chỉ. Một cây vàng nặng 37,50 gram. Một chỉ bằng 1/10 cây vàng. Trên thị trường thế giới, vàng thường được tính theo đơn vị là ounce hay troy ounce. 1 ounce tương đương 31.103476 gram. 

- Tuổi vàng (hay hàm lượng vàng) được tính theo thang độ K (karat). Một Karat tương đương 1/24 vàng nguyên chất. Vàng 9999 tương đương với 24K. Khi người ta nói tuổi vàng là 18K thì nó tương đương với hàm lượng vàng trong mẫu xấp xỉ 75%. Vàng dung trong ngành trang sức  thông thường còn gọi là vàng tây có tuổi khoảng 18K.

Giá vàng quy đổi (VND/lượng) = Giá vàng thế giới (USD/Oz) * 1.20556 * Tỷ giá USD/VND

2. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến giá vàng thế giới và giá vàng trong nước

      Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng thế giới:

      Các yếu tố ảnh hưởng giá vàng trong nước:

3. Vì sao đầu tư vào thị trường Vàng?

Có nhiều nguyên nhân để ngày nay vàng trở thành một công cụ đầu tư hiệu quả. Trong đó, các nguyên nhân được đánh giá là quan trọng nhất bao gồm:

    • Thị trường vàng thế giới
      • Đơn vị yết giá (thông thường): USD/ounce
      • 1 ounce = 1 troy ounce = 0.83 lượng
      • 1lượng = 1.20556 ounce
    • Thị trường vàng trong nước
      • Đơn vị yết giá: VND/lượng
      • Công thức quy đổi giá vàng từ đơn vị tính USD/Oz thành đơn vị tính VND/lượng:
    • Sự biến động của giá đô la Mỹ – lãi suất tiền gởi của Mỹ.
    • Sự biến động của giá dầu.
    • Mức độ lạm phát của nền kinh tế Mỹ.
    • Một số chỉ số của nền kinh tế Mỹ.
    • Giá vàng trên thế giới.
    • Cung cầu của các nhà đầu tư và thị trường trang sức.
    • Chính sách về vàng của các ngân hàng, công ty vàng bạc đá quý lớn.
    • Vàng là một công cụ đầu tư truyền thống của người Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, từ trước mùa xuân năm 1975, có lẽ chưa lúc nào, Việt Nam được bình yên trong một vài thế kỷ. Chiến tranh nối tiếp chiến tranh, hết ngoại xâm này lại đến ngoại xâm khác. Do đó, việc lưu dữ tiền luôn ẩn chứa những rủi ro bất trắc. Chỉ có vàng là loại tài sản được xem là có giá trị bất biến với thời gian – dù trong chế độ nào thì vàng vẫn luôn là vàng. Vàng cũng được dùng làm chuẩn đo giá trị của những tài sản lớn khác. Nếu dùng khái niệm tiền để định giá sản phẩm thì những người ở giai đoạn lịch sử khác nhau sẽ không hiểu nhau. Nếu nói ngôi nhà này trị giá bao nhiêu đồng tiền Đông Dương thì chỉ có những cụ già bảy mươi tuổi mới hiểu. Nhưng nói căn nhà giá trị 100 cây vàng thì thế hệ nào cũng hiểu được, đây là một trong những lý do để vàng trở thành phương tiện đo lường và trao đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. 
    • Vàng không chỉ là một loại hàng hóa đơn thuần như những loại hàng hóa khác, vàng còn là một loại tiền tệ đặc biệt dùng để trao đổi trong hơn 5,000 năm nay. Bên cạnh đó, không giống như những đồng tiền trên thị trường như Đô la Mỹ, đồng Euro, đồng Yên, đô la Úc,… những đồng tiền này thường gắn liền và được kiểm soát bởi chính phủ của đồng tiền nước đó và nền kinh tế của nước đó. Sự tăng giảm nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến giá trị đồng tiền đó. Trong khi đó, vàng và bạc là một loại đồng tiền đặc biệt bởi hai loại hàng hóa này mang tính chất của một công cụ trao đổi nhưng lại không chịu sự kiểm soát hay ảnh hưởng bởi nền kinh tế cụ thể nào. Chính điều này giữ giá trị của vàng lâu dài hơn so với các đồng tiền khác.
    • Chính tính chất như một loại hàng hóa của vàng cũng đem lại cho vàng một sức hút hấp dẫn trong vai trò là công cụ đầu tư chống lạm phát. Kinh tế ngày càng phát triển, chỉ số lạm phát ngày càng tăng và vàng sẽ là công cụ đầu tư giữ được giá trị cao nhất. 
    • Trong bối cảnh tình hình chính trị bất ổn, vàng cũng là loại tài sản tích trữ duy nhất bởi giá trị của các đồng tiền có thể thay đổi theo diễn biến chính trị. Trong khi đó, vàng luôn giữ được giá trị của mình dưới bất kì hoàn cảnh nào. Đó cũng chính là lí do vì sao giá vàng luôn tăng cao khi chính trị leo thang. 
    • Một lí do nữa khiến nhiều nhà đầu tư ngày nay chú ý đến vàng là do việc dự trữ vàng ngày càng tăng của ngân hàng Trung ương các quốc gia trên thế giới. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, các ngân hàng trung ương đang đưa vàng vào danh mục dự trữ của mình thay cho việc dự trữ đô la Mỹ truyền thống trước đây.
    • Và mọi người ai cũng biết rằng, việc khai thác vàng ngày càng hạn chế bởi số lượng vàng trong các mỏ vàng ngày càng giảm. Chính điều này đã làm cho giá vàng biến động mạnh nhưng luôn đi theo chiều hướng tăng dài hạn.

    Theo Vina Forex

Cập nhật lúc :10/01/2009 12:00 (GMT +7)
 Thủa xưa, người dân miền Trung Cận Đông làm nghề buôn bán vàng, bạc, đá quý thường đong bằng hạt cây, cây đó được dân vùng đó gọi là cây Kirat, một loại cây mọc ven bờ Địa Trung Hải. Hạt của chúng rất đều nhau và rất nhỏ. Sau khi đơn vị đo quốc tế quy ước tính bằng gram (g) năm 1889, mỗi hạt kirat tương đương với 0,2g. Nếu để giao dịch trong các hợp đồng kinh tế, đơn vị tính là gram, còn để giao dịch thông thường, người ta vẫn gọi là ca-ra.
 Có lẽ nó bắt nguồn từ xa xưa, truyền khẩu lại cho nhau. Bởi đá quý thường được mua bán trao tay, mà thuật ngữ này có từ thời cổ Hy Lạp gọi là “keration”.

Cho đến ngày nay, khi đi mua tại các tiệm vàng trong cả nước. Người tiêu dùng quen nghe 18 cara (18K); 24K, viên Hồng Ngọc hay Kim Cương này mấy ca-ra. Vậy từ cara trong cách tính của vàng với cara của đá quý có gì khác nhau?

Với vàng: Cara chỉ chất lượng của vàng (tuổi vàng). Mỗi sản phẩm được đóng tên 18K (nghĩa là vàng 7,5 tuổi).

Vàng nguyên chất được gọi là vàng mười, vàng ý, vàng ròng, vàng bốn số 9 tức là vàng 24 cara (24K).

Như vậy, vàng cứ 1 tuổi sẽ được hiểu là vàng 2,4 cara. Và cách tính lùi dần, vàng 5 tuổi, vàng 7,5 tuổi. Vàng càng nhiều số chín (9999) tức là vàng càng nguyên chất.

Với đá quý: cara lại chỉ về trọng lượng của viên đá, không tính đến chất lượng của viên đá. Cứ 0,2g được tính bằng 1 cara. 1 kilogam bằng 5000cara.

Dù tính bằng gam hay cara trong đá quý, cách nào cũng được. Bạn nên chú ý phân biệt khi đi mua vàng hay đá quý, vì cách tính tiền có sự khác nhau đấy.

                                                             (Theo Thời Trang Vàng)

Theo WIKIPEDIA...

Vàng là tên nguyên tố hoá học có kí hiệu Au (L. aurum) và số nguyên tử 79 trong bảng tuần hoàn. Là kim loại chuyển tiếp (hoá trị 3 và 1) mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàng không phản ứng với hầu hết các hoá chất nhưng lại chịu tác dụng của nước cường toan (aqua regia) để tạo thành axít cloroauric cũng như chịu tác động của dung dịch xyanua của các kim loại kiềm. Kim loại này có ở dạng quặng hoặc hạt trong đá và trong các mỏ bồi tích và là một trong số kim loại đúc tiền.

Vàng được dùng làm một tiêu chuẩn tiền tệ ở nhiều nước và cũng được sử dụng trong các ngành trang sức, nha khoađiện tử. Mã tiền tệ ISO của nó là XAU.

Các đặc tính đáng lưu ý

Vàng là nguyên tố kim loại có màu vàng khi thành khối, khi dạng bột vàng nguyên chất 100% có màu đen, hồng ngọc hay tía khi được cắt nhuyễn. Nó là kim loại dễ uốn dát nhất được biết. Thực tế, 1 g vàng có thể được dập thành tấm 1 m², hoặc 1 ounce thành 300 feet². Là kim loại mềm, vàng thường tạo hợp kim với các kim loại khác để làm cho nó cứng thêm.

Vàng có tính dẫn nhiệt và điện tốt, không bị tác động bởi không khí và phần lớn hoá chất (chỉ có bạcđồng là những chất dẫn điện tốt hơn). Nó không bị ảnh hưởng về mặt hoá học bởi nhiệt, độ ẩm, ôxy và hầu hết chất ăn mòn; vì vậy nó thích hợp để tạo tiền kim loại và trang sức. Các halogen có tác dụng hoá học với vàng, còn nước cường toan thì hoà tan nó.

Màu của vàng rắn cũng như của dung dịch keo từ vàng (có màu đậm, thường tía) được tạo ra bởi tần số plasmon của nguyên tố này nằm trong khoảng thấy được, tạo ra ánh sáng vàng và đỏ khi phản xạ và ánh sáng xanh khi hấp thụ. Vàng nguyên thuỷ có chứa khoảng 8 đến 10% bạc, nhưng thường nhiều hơn thế. Hợp kim tự nhiên với thành phần bạc cao (hơn 20%) được gọi là electrum. Khi lượng bạc tăng, màu trở nên trắng hơn và trọng lượng riêng giảm.

Vàng tạo hợp kim với nhiều kim loại khác; hợp kim với đồng cho màu đỏ hơn, hợp kim với sắt màu xanh lá, hợp kim với nhôm cho màu tía, với bạch kim cho màu trắng, bismuth tự nhiên với hợp kim bạc cho màu đen. Đồ trang sức được làm bằng các kết hợp vàng nhiều màu được bán cho du khách ở miền Tây nước Mĩ được gọi là "vàng Black Hills".

Trạng thái ôxi hoá thường gặp của vàng gồm +1 (vàng(I) hay hợp chất aurous) và +3 (vàng(III) hay hợp chất auric). Ion vàng trong dung dịch sẵn sàng được khửkết tủa thành vàng kim loại nếu thêm hầu như bất cứ kim loại nào khác làm tác nhân khử. Kim loại thêm vào được ôxi hoá và hoà tan cho phép vàng có thể được lấy khỏi dung dịch và được khôi phục ở dạng kết tủa rắn.

Sử dụng và Ứng dụng

Vàng nguyên chất quá mềm không thể dùng cho việc thông thường nên chúng thường được làm cứng bằng cách tạo hợp kim với bạc, đồng và các kim loại khác. Vàng và hợp kim của nó thường được dùng nhiều nhất trong ngành trang sức, tiền kim loại và là một chuẩn cho trao đổi tiền tệ ở nhiều nước. Vì tính dẫn điện tuyệt vời, tính kháng ăn mòn và các kết hợp lí tính và hóa tính mong muốn khác, vàng nổi bật vào cuối thế kỉ 20 như là một kim loại công nghiệp thiết yếu.

Trao đổi tiền tệ

Vàng đã được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới như một phương tiện chuyển đổi tiền tệ, hoặc bằng cách phát hành và công nhận các đồng xu vàng hay các số lượng kim loại khác, hay thông qua các công cụ tiền giấy có thể quy đổi thành vàng bằng cách lập ra bản vị vàng theo đó tổng giá trị tiền được phát hành được đại diện bởi một lượng vàng dự trữ.

Tuy nhiên, số lượng vàng trên thế giới là hữu hạn và việc sản xuất không gia tăng so với nền kinh tế thế giới. Ngày nay, sản lượng khai thác vàng đang sụt giảm.[1] Với sự tăng trưởng mạnh của các nền kinh tế trong thế kỷ 20, và sự gia tăng trao đổi quốc tế, dự trữ vàng thế giới và thị trường của nó đã trở thành một nhánh nhỏ của toàn bộ các thị trường và các tỷ lệ trao đổi tiền tệ cố định với vàng đã trở nên không thể duy trì. Ở đầu Thế chiến I các quốc gia tham gia chiến tranh đã chuyển sang một bản vị vàng nhỏ, gây lạm phát cho đồng tiền tệ của mình để có tiền phục vụ chiến tranh. Sau Thế chiến II vàng bị thay thế bởi một hệ thống tiền tệ có thể chuyển đổi theo hệ thống Bretton Woods. Bản vị vàng và tính chuyển đổi trực tiếp của các đồng tiền sang vàng đã bị các chính phủ trên thế giới huỷ bỏ, bị thay thế bằng tiền giấy. Thuỵ Sĩ là quốc gia cuối cùng gắn đồng tiền của mình với vàng; vàng hỗ trợ 40% giá trị của tiền cho tới khi Thuỵ Sĩ gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế năm 1999.[2]

Vàng nguyên chất quá mềm để có thể được sử dụng như tiền tệ hàng ngày và nó thường được làm cứng thêm bằng cách thêm đồng, bạc hay các loại kim loại cơ sở khác. Hàm lượng vàng trong hợp kim được xác định bằng cara (k). Vàng nguyên chất được định danh là 24k. Các đồng xu vàng được đưa vào lưu thông từ năm 1526 tới thập niên 1930 đều là hợp chất vàng tiêu chuẩn 22k được gọi là vàng hoàng gia, vì độ cứng.

Đầu tư

Nhiều người sở hữu vàng và giữ chúng dưới hình thức các thỏi nén hay thanh như một công cụ chống lại lạm phát hay những đợt khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, một số nhà kinh tế không tin việc giữ vàng là một công cụ chống lạm phát hay mất giá tiền tệ.[3]

Mã tiền tệ ISO 4217 của vàng là XAU.

Các thỏi vàng hiện đại cho mục đích đầu tư hay cất trữ không yêu cầu các tính chất cơ khí tốt; chúng thường là vàng nguyên chất 24k, dù American Gold Eagle, gold sovereign của Anh, và Krugerrand của Nam Phi tiếp tục được đúc theo chất lượng 22k theo truyền thống. Đồng xu Canadian Gold Maple Leaf phát hành đặc biệt có chứa lượng vàng nguyên chất cao nhất so với bất kỳ thỏi vàng nào, ở mức 99.999% hay 0.99999, trong khi đồng xu Canadian Gold Maple Leaf phát hành phổ thông có độ nguyên chất 99.99%. Nhiều đồng xu vàng nguyên chất 99.99% khác cũng có trên thị trường. Australian Gold Kangaroos lần đầu tiên được đúc năm 1986 như Australian Gold Nugget. Chủ đề kangaroo của nó xuất hiện năm 1989. Ngoài ra, có nhiều đồng xu thuộc serie Australian Lunar Calendar, và Austrian Philharmonic. Năm 2006, United States Mint bắt đầu sản xuất đồng xu vàng American Buffalo với độ nguyên chất 99.99%.

Nữ trang

Bài chi tiết: Nữ trang

Vì tính mềm của vàng nguyên chất (24k), nó thường được pha trộn với các kim loại căn bản khác để sử dụng trong công nghiệp nữ trang, làm biến đổi độ cứng và tính mềm, điểm nóng chảy, màu sắc và các đặc tính khác. Các hợp kim với độ cara thấp, thường là 22k, 18k, 14k hay 10k, có chứa nhiều đồng, hay các kim loại cơ bản khác, hay bạc hay palladium hơn trong hỗn hợp. Đồng là kim loại cơ sở thường được dùng nhất, khiến vàng có màu đỏ hơn. Vàng 18k chứa 25% đồng đã xuất hiện ở đồ trang sức thời cổ đại và đồ trang sức Nga và có kiểu đúc đồng riêng biệt, dù không phải là đa số, tạo ra vàng hồng. Hợp kim vàng-đồng 14k có màu sắc gần giống một số hợp kim đồng, và cả hai đều có thể được dùng để chế tạo các biểu trưng cho cảnh sát và các ngành khác. Vàng xanh có thể được chế tạo bởi một hợp kim với sắt và vàng tía có thể làm bằng một hợp kim với nhôm, dù hiếm khi được thực hiện trừ khi trong trường hợp đồ trang sức đặc biệt. Vàng xanh giòn hơn và vì thế khó chế tác hơn trong ngành trang sức. Các hợp kim vàng 18 và 14 carat chỉ pha trộn với bạc có màu xanh-vàng nhất và thường được gọi là vàng xanh. Các hợp kim vàng trắng có thể được làm với palladium hay nickel. Vàng trắng 18 carat chứa 17.3% nickel, 5.5% kẽm và 2.2% đồng có màu bạc. Tuy nhiên, nickel là chất độc, và độ giải phóng của nó bị luật pháp quản lý ở châu Âu. Các loại hợp kim vàng trắng khác cũng có thể thực hiện với palladium, bạc và các kim loại trắng khác,[4] nhưng các hợp kim palladium đắt hơn các hợp kim dùng nickel. Các hợp kim vàng trắng có độ nguyên chất cao có khả năng chống ăn mòn hơn cả bạc nguyên chất hay bạc sterling. Hội tam điểm Nhật Mokume-gane đã lợi dụng sự tương phản màu sắc giữa màu sắc các hợp kim vàng khi dát mỏng để tạo ra các hiệu ứng kiểu thớ gỗ.

Y tế

Thời Trung Cổ, vàng thường được xem là chất có lợi cho sức khoẻ, với niềm tin rằng một thứ hiếm và đẹp phải là thứ tốt cho sức khoẻ. Thậm chí một số người theo chủ nghĩa bí truyền và một số hình thức y tế thay thế khác coi kim loại vàng có sức mạnh với sức khoẻ.[5] Một số loại muối thực sự có tính chất chống viêm và đang được sử dụng trong y tế để điều trị chứng viêm khớp và các loại bệnh tương tự khác.[6] Tuy nhiên, chỉ các muối và đồng vị của vàng mới có giá trị y tế, khi là nguyên tố (kim loại) vàng trơ với mọi hoá chất nó gặp trong cơ thể. Ở thời hiện đại, tiêm vàng đã được chứng minh là giúp làm giảm đau và sưng do thấp khớplao.[6][7]

Các hợp kim vàng đã được sử dụng trong việc phục hồi nha khoa, đặc biệt là răng, như thân răngcầu răng vĩnh viễn. Tính dễ uốn của các hợp kim vàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo bề mặt kết nối răng và có được các kết quả nói chung tốt hơn các loại khác làm bằng sứ. Việc sử dụng thân răng vàng với các răng có số lượng nhiều như răng cửa đã được ưa chuộng ở một số nền văn hoá nhưng lại không được khuyến khích ở các nền văn hoá khác.

Sự pha chế vàng keo (chất lỏng gồm các phân tử nano vàng) trong nước có màu rất đỏ, và có thể được thực hiện với việc kiểm soát kích cỡ các phân tử lên tới một vài phần chục nghìn nanomét bằng cách giảm vàng chloride với các ion citrate hay ascorbate. Vàng keo được sử dụng trong nghiên cứu y khoa, sinh học và khoa học vật liệu. Kỹ thuật miễn dịch vàng (immunogold) khai thác khả năng của các phần tử vàng hấp thụ các phân tử protein lên các bên mặt của chúng. Các phần tử vàng keo được bao phủ với các kháng thể riêng biệt có thể được dùng để phát hiện sự hiện diện và vị trí của các kháng nguyên trên bề mặt của tế bào.[8] Trong các phần siêu mỏng của mô được quan sát bởi kính hiển vi electron, các đoạn immunogold xuất hiện với mật độ cực lớn bao quanh các điểm ở vị trí của kháng thể.[9] Vàng keo cũng là hình thức vàng được sử dụng như sơn vàng trong ngành gốm sứ trước khi nung.

Vàng, hay các hợp kim của vàng và palladium, được áp dụng làm lớp dẫn cho các mẫu sinh học và các vật liệu phi dẫn khác như plastics và kính để được quan sát trong một kính hiển vi electron quét. Lớp phủ, thường được tạo bởi cách thổi với một argon plasma, có ba vai trò theo cách ứng dụng này. Tính dẫn điện rất cao của vàng dẫn điện tích xuống đất, và mật độ rất cao của nó cung cấp năng lượng chặn cho các electron trong chùm electron, giúp hạn chế chiều sâu chùm electron xâm nhập vào trong mẫu. Điều này cải thiện độ nét của điểm và địa hình bề mặt mẫu và tăng độ phân giải không gian của hình ảnh. Vàng cũng tạo ra một hiệu suất cao của các electron thứ hai khi bị bức xạ bởi một chùm electron, và các electron năng lượng thấp đó thường được dùng làm nguồn tín hiệu trong kính hiển vi quét electron.[10]

Đồng vị vàng-198, (bán rã 2.7 ngày) được dùng trong một số phương pháp điều trị ung thư và để điều trị một số loại bệnh.[11]

Thực phẩm và đồ uống

  • Vàng có thể được sử dụng trong thực phẩm và có số E 175.[12]
  • Vàng lá, bông hay bụi được dùng trên và trong một số thực phẩm cho người sành ăn, đáng chú ý nhất là các đồ bánh kẹo và đồ uống như thành phần trang trí.[13] Vàng lá đã được giới quý tộc thời châu Âu Trung Cổ sử dụng như một thứ đồ trang trí cho thực phẩm và đồ uống, dưới dạng lá, bông hay bụi, hoặc để thể hiện sự giàu có của chủ nhà hay với niềm tin rằng một thứ có giá trị và hiếm sẽ có lợi cho sức khoẻ con người. Lá vàng và bạc thỉnh thoảng được dùng trong các đồ bánh kẹo ở Nam Á như barfi.[14]
  • Goldwasser (nước vàng) là một đồ uống thảo mộc truyền thống được sản xuất tại Gdańsk, Ba Lan, và Schwabach, Đức, và có chứa những bông vàng lá. Cũng có một số loại cocktail đắt giá (~$1000) có chứa bông vàng lá.[15] Tuy nhiên, bởi vàng kim loại trơ với mọi chất hoá học trong cơ thể, nó không mang lại hương vị cũng không có hiệu quả dinh dưỡng nào và không làm thay đổi gì cho cơ thể.[16]

Công nghiệp

  • Hàn vàng được dùng để gắn kết các thành phần vàng trang sức bằng chất hàn cứng nhiệt độ cao hay đồng thau. Nếu công việc đòi hỏi chất lượng chứng nhận, vàng hàn phải có cùng trọng lượng carat, và công thức hợp kim được chế tạo theo hầu hết tiêu chuẩn trọng lượng carat công nghiệp màu sắc đáp ứng vàng vàng và trắng. Hàn vàng thường được thực hiện ở ít nhất ba điểm nóng chảy được gọi là Dễ, Trung bình và Khó. Bằng cách sử dụng mức khỏ, ban đầu đưa nó tới điểm nóng chảy, tiếp đó người hàn sẽ dần hạ thấp điểm nóng chảy, thợ vàng có thể lắp ráp các đồ vật phức tạp với nhiều điểm hàn riêng biệt.
  • Vàng có thể được chế tạo thành sợi chỉ và được dùng trong thêu thùa.
  • Vàng mềmcó thể uốn, có nghĩa nó có thể được chế tạo thành sợi dây rất mỏng và có thể được dát thành tấm rất mỏng gọi là lá vàng.
  • Vàng tạo màu đỏ sâu khi được dùng làm tác nhân màu trong ngành thuỷ tinh.
  • Trong chụp ảnh, các chất liệu màu bằng vàng được dùng để chuyển đổi màu của các điểm trắng và đen trên giấy ảnh thành màu xám và xanh, hay để tăng sự ổn định của chúng. Được dùng trong in tông nâu đỏ, chất màu vàng tạo ra các tông đỏ. Kodak đã công bố các công thức cho nhiều kiểu tông màu từ vàng, sử dụng vàng như chloride.[17]
  • Bởi vàng là một chất phản xạ tốt với bức xạ điện từ như hồng ngoại và ánh sáng nhìn thấy được cũng như các sóng radio, nó được dùng làm lớp phủ bảo vệ cho nhiều vệ tinh nhân tạo, trong các tấm bảo vệ nhiệt hồng ngoại và mũ của các nhà du hành vũ trụ và trên các máy bay chiến tranh điện tử như EA-6B Prowler.
  • Vàng được dùng như lớp phản xạ trên một số đĩa CD công nghệ cao.
  • Ô tô có thể sử dụng vàng để tản nhiệt. McLaren sử dụng vàng lá trong khoang động cơ model F1 của mình.[18]
  • Vàng có thể được sản xuất mỏng tới mức nó dường như trong suốt. Nó được dùng trong một số cửa sổ buồng lái máy bay để làm tan băng hay chống đóng băng bằng cách cho một dòng điện chạy qua đó. Nhiệt tạo ra bởi kháng trở của vàng đủ để khiến băng không thể hình thành.[19]

Điện tử

Sự tập trung các electron tự do trong kim loại vàng là 5.90×1022 cm−3. Vàng có tính dẫn điện rất cao, và đã được dùng làm dây dẫn điện trong một số thiết bị tiêu thụ nhiều điện năng (bạc thậm chí có độ dẫn điện trên thể tích cao hơn, nhưng vàng có ưu điểm chống ăn mòn). Ví dụ, các dây dẫn điện bằng vàng đã được sử dụng trong một số thực nghiệm nguyên tử thuộc Dự án Manhattan, nhưng những dây dẫn bạc dòng lớn cũng được sử dụng trong các nam châm tách đồng vị calutron của dự án này.

Dù vàng bị chlorine tự do tấn công, tính dẫn điện tốt của nó và khả năng chống ôxi hoá và ăn mòn nói chung trong các môi trường khác (gồm cả khả năng kháng axít không chlorine) đã khiến nó được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp điện tử bởi chỉ một lớp phủ vàng mỏng có thể đảm bảo kết nối điện mọi dạng, vì thế đảm bảo độ kết nối tốt. Ví dụ, vàng được dùng làm thiết bị nối của các dây dẫn điện đắt đỏ, như audio, video và cáp USB. Lợi ích của việc sử dụng vàng làm kim loại kết nối so với kim loại khác như thiếc đang bị tranh luận dữ dội. Các kết nối vàng thường bị các chuyên gia nghe nhìn chỉ trích là không cần thiết với hầu hết khách hàng và bị coi chỉ đơn giản là một trò marketing. Tuy nhiên, việc sử dụng vàng trong các thiết bị điện tử kiểu trượt khác trong các môi trường rất ẩm ướt và ăn mòn, và cho các tiếp xúc với chi phí hư hỏng lớn (một số máy tính, thiết bị thông tin, tàu vũ trụ, động cơ máy bay phản lực) vẫn rất phổ biến.[20]

Bên cạnh tiếp xúc điện kiểu trượt, vàng cũng được dùng trong tiếp xúc điện bởi nó có khả năng kháng ăn mòn, độ dẫn điện, mềm và không độc.[21] Các công tắc kiểu bấm nói chung dễ bị ăn mòn hơn công tắc trượt. Các dây dẫn bằng vàng mỏng được dùng để kết nối các thiết bị bán dẫn với gói thiết bị của chúng qua một quá trình được gọi là kết nối dây.

Hoá học

Vàng bị tấn công và hoà tan trong các dung dịch kiềm hay natri cyanide, và cyanide vàng là chất điện phân được dùng trong kỹ thuật mạ điện vàng lên các kim loại cơ sở và kết tủa điện. Các dung dịch vàng chloride (chloroauric acid) được dùng để chế tạo vàng keo bằng cách khử với citrate hay ascorbate ions. Vàng chloride và vàng oxide được dùng để chế tạo thuỷ tinh màu đỏ hay thuỷ tinh có giá trị cao, mà, như chất lỏng keo vàng, có chứa các phân tử nano vàng với kích cỡ đồng đều.[22]

Đơn vị đo lường

Xem thêm Hệ đo lường kim hoàn

Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, khối lượng của vàng được tính theo đơn vị là cây (lượng hay lạng) hoặc chỉ. Một cây vàng nặng 37,50 g. Một chỉ bằng 1/10 cây vàng.

Trên thị trường thế giới, vàng thường được đo lường theo hệ thống khối lượng troy, trong đó 1 troy ounce (ozt) tương đương 31,1034768 gram.

Tuổi (hay hàm lượng) vàng được tính theo thang độ K (Karat). Một Karat tương đương 1/24 vàng nguyên chất. Vàng 99,99% tương đương với 24K. Khi ta nói tuổi vàng là 18K thì nó tương đương với hàm lượng vàng trong mẫu xấp xỉ 75%. Hiện nay ở Việt Nam người ta thường kinh doanh vàng dưới dạng các bánh, thỏi, nhẫn, dây chuyền, vòng, lắc với hàm lượng vàng chủ yếu là 99,999% hay 99,99%, 99,9%, 99% hay 98%. Vàng dùng trong ngành trang sức thông thường còn gọi là vàng tây có tuổi khoảng 18K.

Lịch sử 

Vàng đã được biết tới và sử dụng bởi các nghệ nhân từ thời Chalcolithic. Các đồ tạo tác bằng vàng ở Balkans xuất hiện từ thiên niên kỷ thứ 4 trước Công Nguyên, như những đồ vật được tìm thấy tại Varna Necropolis. Các đồ tạo tác bằng vàng như những chiếc mũ vàngđĩa Nebra xuất hiện ở Trung Âu từ thiên niên kỷ thứ 2 trước Công Nguyên trong Thời đồ đồng.

Egyptian hieroglyph ngay từ năm 2600 BC đã miêu tả vàng, mà vua Tushratta của Mitanni tuyên bố là "nhiều hơn cát bụi" tại Ai Cập.[23] Ai Cập và đặc biệt là Nubia có các nguồn tài nguyên để biến họ trở thành các trung tâm chế tạo vàng trong hầu hết lịch sử. Bản đồ sớm nhất được biết tới là Bản đồ giấy cói Turin và thể hiện sơ đồ của một mỏ vàng tại Nubia cùng với những chỉ dẫn địa lý địa phương. Các phương thức chế biến ban đầu đã được Strabo miêu tả và gồm cả việc nung chảy. Những mỏ lớn cũng hiện diện trên khắp Biển Đỏ ở nơi hiện là Ả Rập Saudi.

Truyền thuyết về bộ lông cừu vàng có thể để cập tới việc dùng lông cừu để khai thác bụi vàng từ trầm tích cát vàng ở thế giới cổ đại. Vàng thường được đề cập tới trong Cựu ước, bắt đầu với Khải huyền 2:11 (tại Havilah) và gồm trong với các quà tặng của magi trong những chương đầu tiên của Tân ước của Matthew. Sách Khải huyền 21:21 đã miêu tả thành phố Jerusalem Mới có các đường phố "làm bằng vàng nguyên chất, sáng như pha lê". Góc tây nam của Biển Đen nổi tiếng với vàng. Việc khai thác được cho là đã bắt đầu từ thời Midas, và vàng ở đây đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cái có thể là đồng tiền đúc đầu tiên tại Lydia khoảng năm 610 trước Công Nguyên.[24] Từ thế kỷ thứ 6 hay thứ 5 trước Công Nguyên, nhà Chu đã cho sử dụng Ying Yuan, một kiểu đồng tiền xu vàng.

Người La Mã đã phát triển các kỹ thuật mới để khai thác vàng ở quy mô lớn bằng các phương pháp khai mỏ thuỷ lực, đặc biệt tại Tây Ban Nha từ năm 25 trước Công Nguyên trở về sau và tại Romania từ năm 150 sau Công Nguyên trở về sau. Một trong những mỏ lớn nhất nằm tại Las MedulasLeón (Tây Ban Nha), nơi bảy cống dẫn nước dìa cho phép tháo hầu hết trầm tích bồi tích lớn. Các mỏ tại Roşia MontanăTransylvania cũng rất lớn, và cho tới tận gần đây, vẫn được khai thác bằng các phương pháp đúc lộ thiên. Các mỏ nhỏ hơn tại Anh cũng được khai thác, như các trầm tích cát vàng và đá cứng tại Dolaucothi. Nhiều phương pháp họ sử dụng đã được Pliny già miêu tả kỹ lưỡng trong bách khoa toàn thư của mình Naturalis Historia được viết vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên.

Đế chế Mali tại châu Phi nổi tiếng khắp Cựu thế giới về trữ lượng vàng lớn của mình. Mansa Musa, nhà cai trị đế chế (1312–1337) trở nên nổi tiếng khắp cựu thế giới về cuộc hành hương của mình tới Mecca năm 1324. Ông đã đi qua Cairo tháng 7 năm 1324, ông được tả là đã được tháp tùng bởi một đoàn lạc đà với hàng nghìn người và gần một trăm con lạc đà. Ông đã cho đi rất nhiều vàng tới mức vàng giảm giá ở Ai Cập trong hơn một thập kỷ.[25] Một sử gia Ả Rập đương thời đã bình luận:

Vàng đang có giá cao ở Ai Cập cho tới khi họ tới năm ấy. Mithqal không dưới 25 dirhams và nói chung là hơn, nhưng từ thời điểm ấy giá trị của nó đã giảm và mức giá thấp này vẫn còn tới ngày nay. Mithqal không vượt quá 22 dirhams hay ít hơn. Đây là mức giá trao đổi trong khoảng mười hai năm cho tới hiện tại bởi số lượng vàng lớn mà họ đã mang tới Ai Cập và chi tiêu tại đó [...]

Chihab Al-Umari[26]

Cuộc thám hiểm châu Mỹ của người châu Âu đã được kích thích một phần lớn bởi những báo cáo về các đồ trang sức bằng vàng được trưng bày khắp nơi bởi người bản xứ châu Mỹ, đặc biệt tại Trung Mỹ, Peru, EcuadorColombia. Người Aztec coi vàng theo nghĩa đen là sản phẩm của thần thánh, gọi nó là "phân của thánh" (teocuitlatl trong Nahuatl).[27]

Dù giá của một số nhóm kim loại platinum cao hơn nhiều, vàng từ lâu đã được coi là kim loại đáng thèm muốn nhất trong các kim loại quý, và giá trị của nó đã được sử dụng làm bản vị cho nhiều tiền tệ (được gọi là bản vị vàng) trong lịch sử. Vàng đã được sử dụng như một biểu tượng cho sự thanh khiết, giá trị, sự vương giả, và đặc biệt các vai trò phối hợp cả ba đặc tính đó. Vàng như một dấu hiệu của sự giàu sang và danh vọng đã bị Thomas More đem ra chế nhạo trong chuyên luận Utopia. Trên hòn đảo tưởng tượng đó, vàng quá dư thừa tới mức nó được dùng làm xiềng xích cho nô lệ, đồ ăn và đồ toilet. Khi các đại sứ từ các quốc gia khác tới, đeo những bộ đồ trang sức bằng vàng, người dân Utopia tưởng họ là những kẻ hầu hạ, và chỉ tỏ lòng kính trọng với những người ăn mặc xoàng xĩnh nhất trong đoàn.

Có một truyền thống từ lâu là việc cắn vàng để thử nó. Dù đây chắc chắn không phải là một cách chuyên nghiệp để thử vàng, việc cắn để thử có thể để lại dấu vết vì vàng là một kim loại mềm, như được chỉ ra bởi điểm của nó trong bảng độ cứng khoáng sản Mohs. Vàng càng nguyên chất thì càng dễ tạo dấu. Chì được sơn có thể đánh lừa việc thử này bởi chì mềm hơn vàng (và có thể gây ra một nguy cơ ngộ độc chì nhỏ nếu một lượng chì đủ lớn bị hấp thụ trong lần cắn).

Vàng thời cổ đại về mặt địa chất khá dễ để có được; tuy nhiên 75% tổng lượng vàng từng được khai thác đã được khai thác từ năm 1910.[28] Ước tính rằng tổng lượng vàng từng được khai thác sẽ tạo ra một khối 20 m (66 ft) mỗi cạnh (tương đương 8000 m3).[28]

Một mục đích chính của các nhà giả kim thuật là tạo ra vàng từ các dẫn xuất khác, như chì — được cho là qua tương tác với một chất bí ẩn được gọi là đá của nhà triết học. Dù họ không bao giờ thành công trong nỗ lực này, các nhà giả kim thuật đã khiến người ta quan tâm hơn vào cái có thể thực hiện được với các chất, và điều này đã đặt ra nền tảng cho ngành hoá học ngày nay. Biểu tượng của họ cho vàng là vòng tròn với một điểm ở tâm (☉), cũng là biểu tượng chiêm tinhchữ cái Trung Quốc cổ cho Mặt trời. Với việc tạo ra vàng nhân tạo thời hiện đại bằng cách bắt neutron, xem Tổng hợp vàng.

Trong thế kỷ 19, những cuộc đổ xô đi tùm vàng đã xảy ra bất kỳ khi nào những trầm tích vàng lớn được phát hiện. Lần khám phá đầu tiên ra vàng tại Hoa Kỳ được ghi lại là tại Mỏ Vàng Reed gần Georgeville, Bắc Carolina năm 1803.[29] Cuộc đổ xô đi tìm vàng đầu tiên ở Hoa Kỳ diễn ra tại một thị trấn nhỏ phía bắc Georgia tên là Dahlonega.[30] Những cuộc đổ xô đi tìm vàng khác diễn ra tại California, Colorado, Black Hills, Otago, Australia, Witwatersrand, và Klondike.

Bởi giá trị cao từ trong lịch sử của nó, đa số vàng đã được khai thác trong suốt lịch sử vẫn đang được lưu chuyển dưới hình thức này hay hình thức khác.

Occurrence

Số nguyên tử 79 của vàng khiến nó là một trong những nguyên tố có số nguyên tử lớn nhất xảy ra trong tự nhiên. Giống mọi nguyên tố với các số nguyên tử lớn hơn sắt, vàng được cho là đã hình thành từ một quá trình tổng hợp hạt nhân sao siêu mới. Những vụ nổ sao siêu mới tung bụi có chứa kim loại (gồm cả các nguyên tố nặng như vàng) vào trong vùng không gian sau này đặc lại thành hệ mặt trời và Trái đất của chúng ta.[31]

Trên Trái đất, bất kỳ khi nào nguyên tố vàng phát sinh, dường như nó sẽ luôn như là một dung dịch đặc của vàng và bạc, ví dụ một hợp kim vàng bạc. Các hợp kim này thường có hàm lượng bạc 8–10%. Quặng vàng bạc là vàng nguyên tố với hơn 20% bạc. Màu sắc của quặng vàng bạc thay đổi từ màu vàng-bạc tới bạc, phụ thuộc vào hàm lượng bạc. Càng nhiều bạc, nó càng có trọng lượng riêng thấp.

Vàng được tìm thấy trong quặng được tạo ra từ đá với các phần từ vàng rất nhỏ hay cực nhỏ. Quặng vàng này thường được tìm thấy cùng thạch anh hay các khoáng chất sulfide như Fool's Gold, vốn là một pyrite.[32] Chúng được gọi là "mạch" trầm tích. Vàng tự nhiên cũng có dưới hình thức các bông tự do, các hạt hay những quặng vàng lớn đã bị ăn mòn khỏi đá và kết thúc trong các trầm tích phù sa (được gọi là trầm tích cát vàng). Những loại vàng tự do đó luôn nhiều hơn tại bề mặt các mạch có vàng do ôxi hoá các khoáng chất kèm theo bởi thời tiết, và việc rửa trôi bụi vào các con suối và dòng sông, nơi nó tụ tập lại và có thể được hoạt động của nước liên kết lại với nhau để hình thành nên các cục vàng.

Vàng thỉnh thoảng phát sinh cùng với tellurium và các khoáng chất calaverite, krennerite, nagyagite, petzitesylvanite, và như bismuthide hiếm maldonite (Au2Bi) and antimonide aurostibite (AuSb2). Vàng cũng phát sinh trong các hợp kim hiếm với đồng, chì, và thuỷ ngân: các khoáng chất auricupride (Cu3Au), novodneprite (AuPb3) và weishanite ((Au, Ag)3Hg2).

Recent research suggests that microbes can sometimes play an important role in forming gold deposits, transporting and precipitating gold to form grains and nuggets that collect in alluvial deposits.[33]

Các đại dương trên Trái đất có chứa vàng. Lượng tập trung vàng ước tính trong Đại Tây Dương và Đông Bắc Thái Bình Dương là 50–150 fmol/L hay 10-30 phần trên triệu luỹ thừa bốn. Nói chung, những tập trung vàng trong các mẫu của Đại Tây Dương và Thái Bình Dương là tương đương (~50 fmol/L) nhưng ít chắc chắn. Những vùng nước sâu Địa Trung Hải có lượng tập trung vàng lớn hơn (100–150 fmol/L) vì bụi do gió thổi và/hay các con sông. Ở mức 10 phần trên triệu luỹ thừa bốn các đại dương của Trái đất sẽ chứa 15,000 tấn vàng[34]. Những con số này nhỏ bằng một phần ba số ước tính trong tài liệu trước năm 1988, cho thấy các vấn đề với dữ liệu trước đó.

Một số người đã tuyên bố có khả năng khai thác vàng một cách kinh tế từ nước biển, nhưng tất cả họ đều hoặc gặp sai lầm hoặc gian lận. Một người được gọi là đáng tôn kính là Prescott Jernegan đã cho hoạt động một chiếc máy khai thác vàng ở Hoa Kỳ trong những năm 1890. Một fraudster người Anh cũng có một chiếc máy tương tự ở Anh đầu những năm 1900.[35] Fritz Haber (nhà phát minh người Đức với quy trình Haber) đã nghiên cứu việc tách vàng từ nước biển trong một nỗ lực giúp nước Đức bồi thường chiến phí sau Thế chiến I.[36] Dựa trên các giá trị được công bố 2 tới 64 ppb vàng trong nước biển một sự tách vàng một cách thương mại khỏi nước biển dường như có thể thành công. Sau những phân tích 4000 mẫu nước biển với hàm lượng trung bình 0.004 ppb mọi việc trở nên rõ ràng rằng việc tách vàng sẽ không thể trở thành hiện thực và ông đã ngừng dự án.[37] Không một cơ cấu thương mại thực sự nào cho việc tách vàng từ nước biển đã từng được xác nhận. Tổng hợp vàng không có tính kinh tế và dường như cũng sẽ luôn như vậy trong tương lai

Sản xuất

Khai thác vàng có tính kinh tế nhất khi thực hiện tại các mỏ lớn, có trầm tích dễ khai thác. Các cấp quặng thấp ở mức 0.5 mg/kg (0.5 phần trên triệu, ppm) có thể có tính kinh tế. Các cấp quặng thông thường tại các mỏ lộ thiên là 1–5 mg/kg (1–5 ppm); các cấp quặng ngầm dưới đất hay mỏ đá cứng thường ít nhất đạt 3 mg/kg (3 ppm). Bởi phải có các cấp quặng 30 mg/kg (30 ppm) để vàng có thể được quan sát bằng mắt thường, tại hầu hết các mỏ vàng không thể được nhìn thấy.

Từ những năm 1880, Nam Phi đã là một nguồn chiếm tỷ lệ lớn nguồn cung vàng thế giới, với khoảng 50% tất cả lượng vàng từng được sản xuất có nguồn gốc từ Nam Phi. Sản lượng năm 1970 chiếm 79% nguồn cung thế giới, sản xuất khoảng 1,480 tấn. Sản lượng năm 2008 là 2,260 tấn. Năm 2007 Trung Quốc (với 276 tấn) đã vượt qua Nam Phi trở thành nước sản xuất vàng lớn nhất, lần đầu tiên từ năm 1905 mất ngôi vị số một.[38]

Thành phố Johannesburg ở Nam Phi đã được thành lập sau Cuộc đổ xô đi tìm vàng Witwatersrand dẫn tới sự phát hiện một trong những trầm tích vàng lớn nhất thế giới từng có. Các mỏ vàng nằm trong châu thổ các tỉnh Free StateGauteng rộng về strike and dip đòi hỏi một trong những mỏ sâu nhất thế giới, với các mỏ Savuka và TauTona hiện là những mỏ vàng sâu nhất thế giới với độ sâu 3,777 m. Cuộc chiến tranh Boer lần thứ hai giai đoạn 1899–1901 giữa Đế chế Anh và người Boer Afrikaner ít nhất một phần vì các quyền khai mỏ và sở hữu các mỏ vàng ở Nam Phi.

Các nhà sản xuất vàng lớn khác gồm Hoa Kỳ, Australia, Nga và Peru. Các mỏ ở Nam DakotaNevada cung cấp hai phần ba lượng vàng sử dụng tại Hoa Kỳ. Ở Nam Mỹ, dự án Pascua Lama gây tranh cãi có mục tiêu khai thác các mỏ vàng giàu trữ lượng tại những dãy núi cao ở Sa mạc Atacama, tại biên giới giữa ChileArgentina. Ngày nay một phần tư sản lượng vàng thế giới ước tính có nguồn gốc từ các mỏ vàng khai thác thủ công hay mỏ cỡ nhỏ.[39]

Sau khi sản xuất ban đầu, vàng thường được tinh chế theo cách công nghiệp bằng quá trình Wohlwill dựa trên điện phân hay bằng quá trình Miller, khử clo cho dung dịch. Quá trình Wohlwill mang lại độ tinh khiết cao hơn, nhưng phức tạp hơn và thường áp dụng cho các cơ sở quy mô nhỏ.[40][41] Các phương pháp khác để phân tích và tinh luyện vàng gồm thủy phân và tách bạc cũng như phương pháp cupell, hay các phương pháp tinh luyện dựa trên việc hoà tan vàng trong aqua regia.[42]

Ở thời điểm cuối năm 2006, ước tính tất cả lượng vàng từng được khai thác là 158,000 tấn[43] và trong ấn bản tháng 1 năm 2009 của mình, National Geographic viết: "Trong toàn bộ lịch sử, chỉ 161,000 tấn vàng đã được khai thác, chỉ đủ để lấp đầy hai bể bơi dùng trong Olympic." Nó có thể được thể hiện bằng một khối với chiều dài cạnh khoảng 20.28 mét. Giá trị của nó rất hạn chế; với giá $1000 trên ounce, 161,000 tấn vàng sẽ chỉ có giá trị 5.2 nghìn tỷ dollar.

Trung bình chi phí để khai thác vàng khoảng US$317/oz năm 2007, nhưng nó có thể khác biệt rất lớn phụ thuộc vào kiểu mỏ và chất lượng quặng; sản lượng sản xuất tại các mỏ toàn cầu đạt 2,471.1 tấn.[44]

Vàng rất ổn định và có giá trị tới mức nó luôn được thu lại và tái sử dụng. Không có việc tiêu thụ vàng thực sự theo nghĩa kinh tế; việc lưu giữ vàng vẫn là điều thiết yếu khi quyền sở hữu chuyển từ bên này qua bên khác.[45]

Tiêu thụ

Ấn Độ là nước tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới, người Ấn Độ mua khoảng 25% lượng vàng của thế giới,[46] xấp xỉ 800 tấn mỗi năm. Ấn Độ cũng là nhà nhập khẩu kim loại vàng; năm 2008 Ấn Độ nhập khẩu khoảng 400 tấn vàng.[47]

Hoá học

Dù vàng là một kim loại quý, nó hình thành nhiều hợp chất. Số oxi hóa của vàng trong các hợp chất của nó thay đổi từ −1 đến +5, nhưng Au(I) và Au(III) là hoá hợp phổ biến nhất. Au(I), thường được gọi là aurous ion, là tình trạng ôxi hoá phổ biến nhất với các ligand mềm như các thioether, thiolate, và phosphine ba. Các hợp chất Au(I) đặc trưng linear. Một ví dụ điển hình là Au(CN)2, là hình thức hoà tan của vàng trong khai mỏ. Đáng ngạc nhiên, các phức hợp nước khá hiếm. Các vàng halogen hai, như AuCl, tạo nên các dãy polyme zíc zắc, một lần nữa thể hiện sự phối hợp dãy tại Au. Đa số thuốc dựa trên vàng là các dẫn xuất Au(I).[48]

Au(III) (auric) là một tình trạng ôxi hoá phổ biến và được thể hiện bởi gold(III) chloride, AuCl3. Các nhóm Au(III), như các hợp chất d8 khác, nói chung square planar.

Aqua regia, một hỗn hợp 1:3 gồm nitric acidhydrochloric acid, hoà tan vàng. Nitric acid ôxi hoá kim loại tới +3 ions, nhưng chỉ với những khối lượng nhỏ, thường không thể phát hiện trong acid tinh khiết bởi trạng thái cân bằng hoá học của phản ứng. Tuy nhiên, các ion bị loại bỏ khỏi trạng thái cân bằng bởi hydrochloric acid, hình thành các inon AuCl4, hay chloroauric acid, vì thế cho phép sự tiếp tục ôxi hoá.

Một số halogen tự do phản ứng với vàng.[49] Vàng cũng phản ứng với các dung dịch alkaline của potassium cyanide. Với thuỷ ngân, nó hình thành một amalgam.

Các tình trạng ôxi hoá ít phổ thông khác

Các tình trạng ôxi hoá ít phổ thông của vàng gồm −1, +2, và +5.

Tình trạng ôxi hoá −1 xảy ra trong các hợp chất có chứa Au anion, được gọi là aurides. Ví dụ, Caesium auride (CsAu), kết tinh trong caesium chloride motif.[50] Các auride khác gồm các auride của Rb+, K+, và tetramethylammonium (CH3)4N+.[51]

Các hợp chất vàng (II) thường nghịch từ với các liên kết Au–Au như [Au(CH2)2P(C6H5)2]2Cl2. Sự bay hơi của một dung dịch Au(OH)3 trong H2SO4 cô đặc tạo ra các tinh thể đỏ của vàng(II) sulfate, AuSO4. Ban đầu được cho là một hợp chất có hoá trị kết hợp, nó đã được chứng minh có chứa một số cation Au24+.[52][53] Một hỗn hợp vàng(II) đáng chú ý, và chính thống là tetraxenonogold(II) cation, có chứa xenon như một ligand, được tìm thấy trong [AuXe4](Sb2F11)2.[54]

Vàng pentafluoride và anion dẫn xuất của nó, AuF6-, là ví dụ duy nhất về vàng(V), tình trạng ôxi hoá cao nhất được kiểm tra.[55]

Một số hợp chất vàng thể hiện aurophilic bonding, miêu tả khuynh hướng của các ion vàng phản ứng ở các khoảng cách quá xa để là một liên kết Au–Au thông thường nhưng ngắn hơn khoảng cách liên kết van der Waals. Phản ứng được ước tính có thể so sánh với sức mạnh của liên kết hydro.

Các hợp chất hoá trị kết hợp

Các hợp chất cụm được định nghĩa rõ có rất nhiều.[51] Trong những trường hợp đó, vàng có một tình trạng ôxi hoá phân đoạn. Một ví dụ đại diện là loại tám mặt {Au(P(C6H5)3)}62+. Gold chalcogenides, như vàng sulfide, đặc trưng các số lượng tương đương của Au(I) và Au(III).

Độc tính

Kim loại (nguyên tố) vàng nguyên chất không độc và không gây kích thích khi ăn vào[56] và thỉnh thoảng được dùng để trang trí thực phẩm dưới dạng vàng lá. Vàng kim loại cũng là một thành phần của các loại đồ uống có cồn Goldschläger, Gold Strike, và Goldwasser. Vàng kim loại đã được cho phép như một phụ gia thực phẩm tại EU (E175 trong Codex Alimentarius). Dù ion vàng độc, việc chấp nhận kim loại vàng như một phụ gia thực phẩm bởi tính chất trơ tương đối với hoá học của nó, và khả năng chống ăn mòn hay biến thành một loại muối hoà tan (các hợp chất vàng) bởi bất kỳ một quá trình hoá học nào đã được biết có thể xảy ra bên trong cơ thể người.

Các hợp chất hoà tan (các muối vàng) như gold chloride độc hại với gan và thận. Các muối cyanide thông thường của vàng như vàng cyanide kali, được dùng trong việc mạ điện, độc hại cả về tình chất cyanide cả về hàm lượng vàng có trong nó. Đó là những trường hợp hiếm về ngộ độc vàng nguy hiểm từ vàng cyanide kali.[57][58] Ngộ độc vàng có thể được chữa trị bằng một liệu pháp chelation với một tác nhân như Dimercaprol.

Vàng kim loại đã được bầu là Chất gây dị ứng của Năm năm 2001 bởi American Contact Dermatitis Society. Dị ứng do tiếp xúc với vàng hầu hết ảnh hưởng tới phụ nữ.[59] Dù vậy, vàng là một chất gây dị ứng do tiếp xúc không mạnh, so với các kim loại như nickel.[60]

Giá

Như mọi kim loại quý khác, vàng được tính theo trọng lượng troy và bằng gam. Khi nó kết hợp với các kim loại khác, thuật ngữ carat hay karat được sử dụng để chỉ hàm lượng vàng có bên trong, với 24 carat là vàng nguyên chất và các tỷ lệ thấp hơn thể hiện bằng các con số thấp hơn. Độ tinh khiết của một thỏi vàng hay đồng xu vàng cũng có thể được thể hiện bằng một con số thập phân từ 0 tới 1, được gọi là tuổi vàng theo phần nghìn, như 0.995 là rất tinh khiết.

Giá vàng được quyết định qua việc buôn bán vàng và các thị trường phát sinh, nhưng một quá trình được gọi là Định giá Vàng tại Luân Đôn, bắt đầu từ tháng 9 năm 1919, cung cấp một giá chuẩn cho ngành công nghiệp. Việc định giá vào buổi chiều được đưa ra năm 1968 để cung cấp giá vàng khi các thị trường Mỹ mở cửa.

Trong lịch sử tiền xu vàng được sử dụng rộng rãi làm tiền tệ; khi tiền giấy xuất hiện, nó thường là một chứng nhận có thể chuyển đổi sang đồng xu vàng hay nén vàng. Trong một hệ thống kinh tế được gọi là bản vị vàng, một trọng lượng vàng nào đó sẽ được lấy làm tên đơn vị tiền tệ. Trong một giai đoạn dài, chính phủ Hoa Kỳ quy định giá trị của đồng dollar Mỹ để một troy ounce tương đương với $20.67 ($664.56/kg), nhưng vào năm 1934 đồng dollar bị phá giá xuống còn $35.00 trên troy ounce ($1125.27/kg). Tới năm 1961, nước Mỹ đã không còn khả năng duy trì giá này nữa, và một nhóm các ngân hàng Mỹ và châu Âu đồng ý thao túng thị trường để ngăn chặn sự phá giá tiền tệ hơn nữa trước nhu cầu đang gia tăng với vàng.

Ngày 17 tháng 3 năm 1968, các bối cảnh kinh tế đã gây nên sự sụp đổ của khối thị trường vàng, và một mô hình giá hai tầng được hình thành theo đó vàng vẫn được dùng để quy định các tài khoản quốc tế ở mức cũ $35.00 trên troy ounce ($1.13/g) nhưng giá vàng trên thị trường tư nhân được cho phép biến động; hệ thống giá hai tầng này đã bị huỷ bỏ vào năm 1975 khi giá vàng được để theo mức của thị trường tự do. Các Ngân hàng trung ương vẫn giữ dự trữ vàng lịch sử như một sự lưu trữ giá trị dù mức độ nói chung đã sụt giảm. Dự trữ vàng lớn nhất trên thế giới là kho dự trữ của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ tại New York, nắm giữ khoảng 3% [cần dẫn nguồn] lượng vàng từng được khai thác, as does the similarly laden U.S. Bullion Depository at Fort Knox.

Năm 2005 Hội đồng Vàng Thế giới ước tính tổng nguồn cung thế giới là 3,859 tấn và nhu cầu là 3,754 tấn, với thặng dư cung 105 tấn.[61]

Từ năm 1968 giá vàng đã thay đổi mạnh, từ mức cao $850/oz ($27,300/kg) ngày 21 tháng 1 năm 1980, xuống mức thấp $252.90/oz ($8,131/kg) ngày 21 tháng 6 năm 1999 (Luân Đôn Gold Fixing).[62] Giai đoạn từ năm 1999 tới năm 2001 đánh dấu "Đáy Brown" sau một bear market dài 20 năm.[63] Giá đã tăng lên nhanh chóng từ năm 1991, nhưng đỉnh cao năm 1980 mãi tới ngày 3 tháng 1 năm 2008 mới bị vượt qua khi mức giá mới $865.35 trên troy ounce được thiết lập (Luân Đôn Gold Fixing buổi sáng).[64] Một mức giá kỷ lục khác được lập ngày 17 tháng 3 năm 2008 ở mức $1023.50/oz ($32,900/kg)(Luân Đôn Gold Fixing sáng).[64] Mùa thu năm 2009, các thị trường vàng tiếp tục đi vào giai đoạn tăng giá vì sự gia tăng nhu cầu và sự suy yếu của đồng dollar Mỹ. Ngày 2 tháng 12 năm 2009, Vàng vượt qua ngưỡng quan trọng ở mức US$1200 trên ounce và đóng cửa ở mức $1215.[65] Giá vàng tiếp tục tăng mạnh và đạt tới những kỷ lục mới trong tháng 5 năm 2010 sau khi cuộc khủng hoảng nợ ở Liên minh châu Âu khiến giới đầu tư đổ xô vào mua vàng như một tài sản an toàn.[66][67]

Từ tháng 4 năm 2001 giá vàng đã tăng gấp ba so với đồng dollar Mỹ,[68] dẫn tới suy đoán rằng secular bear market từ lâu này đã chấm dứt và một bull market đã quay trở lại.[69] Trong quý 3 của năm 2011, thị trường vàng thế giới lại chứng kiến một đợt tăng giá của vàng do sự suy yếu của kinh tế Mỹ và khu vực đồng Euro. Giá vàng lập kỷ lục lên đến gần $1900/oz.[70]

Lịch sử vàng thế giới

Vàng là kim loại sở hữu những đặc tính vô địch, nhưng nó cũng chẳng có vai trò gì cho đến khi con người tìm ra, đào, tinh luyện và buộc nó phục vụ cho những nhu cầu của mình.

Dưới đây là những mốc thời gian đáng nhớ trong lịch sử của vàng, theo tổng hợp của Hội đồng Vàng Thế giới.

Năm 3600 trước công nguyên

Khối vàng đầu tiên được nung chảy

Những người thợ vàng ở Hy Lạp là những người đầu tiên nung quặng vàng để lấy được vàng từ bên trong. Họ dùng những ống thổi lửa làm bằng đất sét chống lửa để duy trì nhiệt độ cho lò nung.

Năm 2600 trước công nguyên

Những trang sức vàng đầu tiên ra đời

Những người thợ vàng tại Mesopotamia cổ đại ( nước Iraq ngày nay) đã tạo ra một trong những đồ trang sức bằng vàng đầu tiên của con người. Đó là một chiếc vòng cổ làm từ đá carnelian màu xanh da trời có gắn những miếng vàng hình chiếc lá.

Năm 1200-1500 trước công nguyên

Sự cải tiến trong việc làm đồ trang sức

Các thợ thủ công đã phát triển kĩ thuật nung đồ trang sức mới, giúp cải thiện độ cứng và sự đa dạng màu của vàng. Nhờ đó, thị trường cho sản phẩm làm từ vàng càng ngày càng được mở rộng.

Năm 950 trước công nguyên

Solomon xây dựng lâu đài vàng

Khi nữ hoàng Sheba của Yemen đem tặng vua Solomon của Israel 2.500 kilogram vàng, thì tổng số vàng mà vị vua này sở hữu đã lên tới 5.700 kg. Vì vậy, ông đã cho sử dụng một phần tài sản của mình để xây nên lâu đài dát vàng nổi tiếng này.

Năm 600 trước công nguyên

Vàng được dùng trong nha khoa

Lần đầu tiên vàng được dùng trong nha khoa là khi những người Etruscan khi họ đảm bảo an toàn cho việc thay răng bằng các sợi dây bằng vàng. Độ tương hợp sinh học cao, khả năng dát mỏng dễ dàng và tính chống ăn mòn tốt làm cho vàng trở nên hết sức hữu dụng trong nha khoa.

Năm 564 trước công nguyên

Đồng tiền vàng đầu tiên xuất hiện

Vua Croesus đã cho phát triển công nghệ tinh luyện vàng để đúc ra đồng tiền vàng tiêu chuẩn đầu tiên trên thế giới. Với trọng lượng như nhau cho tất cả các đồng tiền, Croesids đã trở thành đơn vị tiền tệ được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới.

Năm 300 trước công nguyên

Lần đầu tiên dùng hạt nano vàng

Người La Mã đã sử dụng vàng để tạo ra màu sắc đặc biệt cho chiếc cốc Lycurgus nổi tiếng. Họ đã đun chảy bột vàng trong thủy tinh và làm nó khuếch tán ra xung quanh. Sự khúc xạ ánh sáng đã làm cho chiếc cốc này có màu đỏ rực rỡ.

Năm 1300

Tiêu chuẩn về vàng được thiết lập

Hệ thống tiêu chuẩn đầu tiên trên thế giới nhằm nghiên cứu và đảm bảo chất lượng các kim lại quý đã được thành lập tại Goldsmith's Hall ở london. Đây cũng là nơi đặt trụ sở của Phòng phân tích kim loại quý London ngày nay.

Năm 1370

Cơn khát vàng đầu tiên trong lịch sử

Trong khoảng thời gian 1370-1420, rất nhiều mỏ vàng lớn quanh khu vực châu Âu trở nên gần như cạn kiệt. Việc đào đãi và sản xuất vàng tại vùng này giảm mạnh đến mức gây ra cả một thời kì mà người ta gọi là “Cơn khát vàng lịch sử”.

Năm 1422

Năm kỷ lục tại Venice

Sở đúc tiền Venice đã lập kỷ lục khi cho sản xuất 1,2 triệu đồng tiền vàng từ 4,26 tấn vàng lấy tại châu Phi và Trung Á. Những đồng xu nhỏ này nhanh chóng trở nên phổ biến vì dễ đúc và giá trị lớn.

Năm 1511

Đội quân xâm lược của vua Ferdinand

Vua Ferdinand của Tây Ban Nha đã nói: “Phải lấy được vàng, nhân đạo được thì càng tốt, nhưng bằng mọi giá, phải lấy cho được vàng”. Và sau đó, ông đã phát động một cuộc xâm lược chưa từng có tại châu Mỹ. Hậu quả là, trong nhiều năm, nền văn minh Inca và Aztec đã gần như bị hủy diệt vì những kẻ xâm lược Tây Ban Nha.

Các mốc lịch sử vàng thế giới

(Phần 2)

Năm 1717

Anh đề ra chế độ bản vị vàng

Anh bắt đầu đề ra chế độ này khi chính phủ định giá 1 ounce vàng là 77 shilling và 10,5 xu năm 1717.

Năm 1803

Việc mạ vàng lần đầu tiên trên thế giới

Việc này được thực hiện bởi giáo sư Luigi Brugnatelli ở Đại học Pavia. Mạ vàng làm cải thiện tính dẫn điện và do đó nó đóng vai trò rất quan trọng đối với nhiều công nghệ hiện đại ngày nay.

Năm 1848

Cơn sốt vàng tại California

John Marshall đã khám phá ra một ít vụn vàng khi xây một nhà máy cưa gần Sacramento, California. Việc này đã châm ngòi cho một cơn sốt vàng lớn nhất trong lịch sử khi có tới 40.000 người trên khắp thế giới đổ xô đến California để đào vàng.

Năm 1885

Cơn sốt vàng tại Nam Phi

Trong khi đang đào đá để xây nhà, một người thợ Australian tên là George Harrison đã tìm thấy quặng vàng tại trang trại Langlaagte gần Johannesburg, Nam Phi. Và thế là những người thợ mỏ từ khắp các nơi đã đổ xô về đây. Ngày nay, Nam Phi chính là nơi có trữ lượng vàng lên tới 40% của toàn thế giới.

Năm 1885

Quả trứng phục sinh đầu tiên của Faberge

Quả trứng phục sinh Faberge
Quả trứng phục sinh Faberge

Carl Faberge đã làm ra những quả trứng phục sinh bằng vàng đầu tiên cho Sa hoàng Alexander III. Quả trứng này có tên là “Trứng gà mái”, và nó đã được Sa hoàng tặng lại cho vợ mình là nữ hoàng Maria Fedorovna. Việc này đã khởi đầu cho một truyền thống kéo dài suốt cho đến tận những năm 1917.

Năm 1870-1900

Thông qua chế độ bản vị vàng

Tất cả các quốc gia lớn trên thế giới trừ Trung Quốc đã chuyển sang chế độ bản vị vàng mới và định giá cho vàng theo các đơn vị tiền tệ. Chế độ hai bản vị bị bãi bỏ.

Năm 1925

Anh khôi phục chế độ bản vị vàng

Nước Anh quay về với chế độ bản vị vàng đặt ra từ trước chiến tranh với 77 shilling và 10,5 xu cho mỗi ounce vàng, bãi bỏ chuẩn mực đặt ra từ 6 năm trước khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ.

Năm 1933

Roosevelt ra lệnh cấm vàng

Tổng thống Roosevelt ra lệnh cấm đổi USD ra vàng (giá tại thời điểm đó là 20.67 USD/ounce). Việc xuất khẩu và nắm giữ vàng tư nhân bị cấm hoàn toàn. Tháng 1/1934, Roosevelt đã định lại giá vàng ở mức 35 USD/ounce.

Năm 1939

Chiến tranh thế giới lần thứ 2 làm thị trường vàng phải đóng cửa

Thị trường vàng ở London đã phải đóng cửa khi Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Sau đó, cả thế giới đã quay về hệ thống tỉ giá hối đoái cố định, lần này là cố định các đơn vị tiền tệ theo đồng USD và giá vàng cũng được tính theo USD.

Năm 1944

Hội nghị Bretton Woods

Hội nghị Bretton Woods đã thiết lập nền tảng cho hệ thống tiền tệ sau chiến tranh. Giá vàng được quy định ở mức 35 USD/ounce. Các đồng tiền khác được niêm yết với tỉ giá cố định so với đồng USD, từ đó hình thành nên chế độ bản vị trao đổi bằng vàng.

Năm 1961

Con chip máy tính đầu tiên dùng vàng làm dây dẫn

Dây dẫn bằng vàng đã được sử dùng để chế tạo ra các con chip máy tính tại phòng thí nghiệm Bell ở Mỹ. Ngày nay, hàng tỉ con chip máy tính đã sử dụng loại dây dẫn này để điều khiển toàn bộ hoạt động của các đồ dùng điện thiết yếu.

Năm 1961

Vàng được dùng trong công nghệ vũ trụ

Con tàu vũ trụ có người lái đầu tiên đã sử dụng vàng để bảo vệ các thiết bị nhạy cảm khỏi bức xạ. Năm 1980, 41 kg vàng đã được dùng để chế tạo tàu con thoi, cụ thể là để hàn các hợp kim, làm các khoang chứa nhiên liệu và các chất dẫn điện.

Năm 1967

Đồng tiền Krugerrand đầu tiên của Nam Phi

The Krugerrand được giới thiệu vào năm 1967, như một công cụ để sở hữu vàng cho cá nhân. Nhưng thực ra, loại tiền xu này được đưa ra nhằm mục đích lưu thông như một đơn vị tiền tệ.

Năm 1971

Gold window (Cửa sổ vàng) đóng cửa

Hệ thống Bretton Woods đã chấm dứt khi tổng thống Mỹ Nixon "đóng cửa gold window ( cửa sổ vàng)", đình chỉ việc quy đổi USD ra vàng. Và sau đó, cả thế giới đã theo chế độ tỉ giá thả nổi như hiện nay.

Năm 1985

Chữa bệnh viêm khớp bằng vàng

Người khổng lồ trong lĩnh vực dược phẩm - SmithKline & French – đã bào chế ra Auranofin, một loại thuốc có chứa vàng để điều trị bệnh viêm khớp mãn tính. Loại thuốc này đã được cấp phép và đem bán ngay lần đầu tiên.

Năm 1999

Thỏa thuận về vàng của các ngân hàng trung ương

15 ngân hàng trung ương châu Âu đã tuyên bố rằng vàng sẽ là thành phần quan trọng trong dự trữ quốc gia và cùng nhau hạn chế tổng lượng vàng bán ra ở mức tối đa là 400 tấn mỗi năm trong vòng 5 năm tiếp theo.

Năm 2001

Vàng được dùng trong phẫu thuật tim

Boston Scientific đã làm ra loại ống stent bọc vàng dùng trong phẫu thuật tim. Đây là loại ống được đặt bên trong động mạch, đóng vai trò như một giá đỡ để giúp máu lưu thông bình thường.

Năm 2003

Vàng K (K-gold) xuất hiện tại Trung Quốc

Hội đồng Vàng thế giới đã tạo ra một phân khúc hoàn toàn mới với việc đưa vàng K ra thị trường. Đây là loại vàng 18 carat ở Trung Quốc. Loại trang sức này chủ yếu có hai màu vàng và trắng, nó được lấy cảm hứng từ các thiết kế của người Italy.

Năm 2004

Quỹ đầu tư vàng SPDR® ra đời

Từ đây, thị trường chuyển sang một hướng đầu tư vàng mới tiên tiến, an toàn và dễ dàng hơn. 6 năm sau khi thành lập, số tài sản được SPDR® nắm giữ đã lên tới hơn 55 tỷ USD.

Năm 2009

Các ngân hàng trung ương lại mua vào

Trong quý 2 của năm, lần đầu tiên sau hai thập kỉ, các ngân hàng trung ương lại trở thành người mua ròng vàng. Động thái này phản ánh đồng thời sự chậm lại trong việc bán vàng của các ngân hàng trung ương châu Âu cũng như sự tăng mua của các nền kinh tế mới nổi.

Năm 2010

Giá vàng chạm đỉnh

Nỗi lo sợ lạm phát và khủng hoảng tài chính liên miên làm cho tiền giấy và tiền xu suy yếu. Giá vàng tại London đã 35 lần liên tiếp chạm đỉnh kể từ đầu năm nay.

Hà Thu tổng hợp

10 sự thật ít biết về vàng

Bất cứ hòn đất, cục đá nào trên thế giới cũng đều chứa vàng, và có một nơi khác đang chứa tới 20 tỷ tấn vàng nguyên chất. 

1. Trong thập kỷ vừa rồi, giá vàng liên tục phi mã với tốc độ chóng mặt, từ 279 USD một ounce vào năm 2000 lên đạt mức kỷ lục 1.920 USD vào tháng 9/2011. Tuy nhiên, ít ai biết rằng trong suốt hai thế kỷ trước đó, giá vàng hầu như luôn ổn định. Ví dụ từ năm 1833 đến 1918, giá vàng không bao giờ tăng quá 6 cent so với mức 18,93 USD một ounce. Ngay cả sau khi cuộc Đại Suy Thoái nổ ra từ 1929, giá vàng vẫn hầu như giữ nguyên, dao động trong khoảng 26 cent từ năm 1933 đến 1967. Đó cũng là thời kỳ kinh tế Mỹ và thế giới lao đao vì gánh chịu hàng loạt cuộc khủng hoảng lạm phát, kinh tế suy thoái chồng chất.
2. Dù hiện nay giá vàng có vẻ cao hơn nhiều so với trong quá khứ, nhưng trên thực tế, vàng từng có thời đắt đỏ hơn nhiều. Hồi 1980, mỗi ounce vàng có giá 850 USD, tương đương với 2.300 USD theo thời giá bây giờ nếu tính cả tỷ lệ lạm phát.
3. Khai thác vàng là một trong những hoạt động có tính phá hoại nhất đối với môi trường. Để làm ra một ounce vàng, người ta phải đãi từ 250 tấn đất đá. Chưa hết, tại các mỏ khai thác quy mô nhỏ, vốn chiếm một phần tư trong số cơ sở khai thác toàn cầu, sử dụng thủy ngân để khai thác vàng. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, hoạt động khai thác vàng như trên đã đóng góp vào một phần ba vào bức tranh ô nhiễm thủy ngân của thế giới.
4. Theo thông tin từ Hội đồng Vàng thế giới, khoảng 70% lượng vàng khai thác xong được làm trang sức. Chỉ khoảng 13% dùng để đúc thành đồng xu, vàng miếng cho các ngân hàng trung ương hoặc nhà đầu tư mua đi bán lại. Phần còn lại được dùng cho nhiều mục đích khác như sản xuất công nghiệp hoặc nha khoa. Ấn Độ là nước tiêu thụ nhiều vàng nhất thế giới, "ngốn" khoảng một phần tư nguồn cung toàn cầu. Hàng năm, đất nước tỷ dân này nhập khẩu khoảng 800 tấn, trong đó có 600 tấn được dùng để sản xuất trang sức.
5. Hầu như mọi hòn đá hay cục đất nào trên thế giới này cũng đều chứa vàng. Tuy nhiên trong đại đa số trường hợp, lượng vàng quá ít không thể nhìn thấy bằng mắt thường và cũng không đủ để sinh lời nếu khai thác.
6. Con người từng biết sử dụng vàng từ thời kỳ đồ đồng, cách đây khoảng 6.000 năm. Thời Ai Cập cổ đại, vàng cũng được xem là thứ kim loại quý giá. Bên trong lăng mộ của Hoàng đế Tutankhamun được dát 110 kg vàng nguyên chất.
7. Các sản phẩm vàng trên thế giới được tái chế liên tục. Điều này có nghĩa là chiếc nhẫn hay cái vòng cổ mà bạn đang đeo, có thể từng là chứa đôi chút mẩu vàng từng chiễm chệ trên cổ một chiến binh La Mã hoặc người Inca nào đó cách đây hàng nghìn năm. Hay thỏi vàng mà bạn mua, có thể chứa một chiếc "răng vàng" của ai đó. Hiện nay, mỗi năm có ít nhất 15% lượng vàng tiêu thụ của năm được mang đi tái chế.
8. Theo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của EU, vàng được xem là đủ an toàn để dùng làm thức ăn.
9. Nếu chia đều toàn bộ số vàng đang có cho dân số thế giới, mỗi người sẽ có khoảng 24 gam vàng, hay 0,8 ounce, tương đương khoảng 1.500 USD với thời giá hiện nay.
10. Cách Trái đất không xa có một tiểu hành tinh mang tên Eros. Theo ước tính, hành tinh này có khoảng 20 tỷ tấn vàng.

Thanh Bình tổng hợp (vnexpress)

Vàng và những con số thú vị

Dưới đây là những con số thống kê thú vị về vàng trên khắp thế giới qua nhiều thế kỷ. 

79 proton: Số lượng proton có trong hạt nhân của một nguyên tử vàng

Những người năm 49: Ám chỉ 40.000 thợ mỏ tham gia vào Cơn sốt vàng tại California năm 1849. Tuy nhiên, chỉ rất ít người trong số họ là trở nên giàu có.

50 dặm: một ounce vàng có thể được kéo căng ra thành một sợi dây dài tới 50 dặm ( tương đương 80,5 km ) với độ rộng chỉ 5 micromet.

7,2 triệu: Số vòng mà toàn bộ vàng trên thế giới được kéo căng ra với độ rộng 5 micromet có thể quấn quanh Trái Đất

9 mét vuông: một ounce vàng nguyên chất có thể được cán mỏng thành một miếng vàng có diện tích 9 m2

1064: vàng tan chảy ở nhiệt độ 1064oC

2808 : ...và chỉ sôi ở nhiệt độ 2808 oC

165.000 tấn: Tổng khối lượng vàng đào được kể từ khi con người xuất hiện

20: ...và tất cả chỗ vàng đó sẽ được đút vừa trong một chiếc thùng rộng 20 m3

90: Hơn 90% số vàng trên thế giới đã được con người khai thác kể từ sau Cơn sốt vàng ở California

100 triệu người trên thế giới phải sống nhờ đào vàng

31.103: số gram vàng có trong 1 ounce vàng

400: Những thỏi vàng phù hợp với tiêu chuẩn củaphải có khối lượng là 400 ounce

200 : số đồng xu vàng mà Julius Caesar đã đưa cho mỗi binh lính của mình sau khi chinh phạt thành công xứ Gaule

4.600 : số tấn vàng mà Fort Knox (kho dự trữ vàng quốc gia của Mỹ) hiện đang nắm giữ

6.200: số thỏi vàng mà Fed đang nắm giữ

37: Nhiệt độ bình thường của cơ thể người là 37oC , chính vì vàng có tính dẫn đặc biệt mà trang sức vàng có thể nhanh chóng hòa hợp với nhiệt độ cơ thể người.

1: Việc tìm được 1 ounce vàng tự nhiên còn khó hơn cả tìm 1 viên kim cương 5 carat

60: 60% số lượng vàng đào được được dùng để chế tạo đồ trang sức

394: Giá vàng đã tăng 394% từ tháng 12/2000 đến tháng 10/2010

750: Trong số 1000 miếng vàng nguyên chất, có tới 750 miếng là vàng 18 carat

95: Năm 95 trước Công nguyên, vua Hiếu Vũ nhà Đông Tấn đã cho đúc các miếng vàng để kỉ niệm sự kiện ông trông thấy kì lân

53: Đồng xu vàng lớn nhất từng được đúc là đồng Maple Leaf trị giá 1 triệu USD của Canada, đúc năm 2007 với đường kính 53 cm.

1922: Howard Carter đã tìm ra lăng mộ của vua Tutankhamun. Đây được coi là thành tựu vĩ đại của ngành khảo cổ học. Tutankhamun là nỗi khát khao của rất nhiều người, vì ngôi mộ của “cậu bé vàng Ai Cập” này là một kho báu có giá trị vô song

15.000: Các đại dương trên thế giới được cho là chứa khoảng 15.000 tấn vàng.

2.316: Cục vàng tự nhiên nặng nhất đã được tìm thấy tại Moliagul, Australia năm 1969. Nó nặng tới 2.216 ounce và được đặt tên là “ Chào người lạ”

55: Tính đến tháng 11/2010, Quỹ đầu tư vàng SPDR của Hiệp hội vàng thế giới đã nắm giữ số tài sản trị giá 55 tỷ USD.

35: Số lần giá vàng thiết lập đỉnh mới năm 2010

Hà Thu (Theo gold.org)

RSS

Hiểu về trái timNếu bạn chưa biết cách sử dụng chức năng nào trên NHÀ, bấm vào đây...

Hỗ trợ trực tuyến (Mr Hải CB34) Bạn hãy login Yahoo! Messenger trước khi bấm vào đây để trao đổi
Visitors:Cựu SVTS

Latest Activity

Bùi Văn Hải replied to Bùi Văn Hải's discussion Điều kiện để làm admin (chủ nhà)
"Lục lại những lời hứa :)"
yesterday
Bùi Văn Hải replied to hồ thị Yến's discussion Bảo dưỡng nhà
"Cảm ơn bạn Hải Đường đã tự nguyện, tự giác góp chút gạo cho một năm…"
yesterday
Hải Đường liked Phan Minh Khanh KD44's discussion Chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh qua mạng
yesterday
Hải Đường shared hồ thị Yến's discussion on Facebook
yesterday
Nguyễn Anh Tuấn replied to Đinh Xuân Lập's discussion CHIA SẺ TÀI LIỆU CHUYÊN NGÀNH THỦY SẢN
"Sao chỉ có bao nhiêu thôi vậy các bác? Ai còn tài…"
Tuesday
Mr Trường is now a member of NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Tuesday
Đặng Châu Luân updated their profile
Jul 18
Nguyễn Dương Thanh is now a member of NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Jul 18
Nguyễn Thu Hiền replied to Bùi Văn Hải's discussion Thắc mắc lặt vặt ai biết trả lời giúp, xin cảm ơn :)
"Chào cả Nhà! Nhà mình ai biết chỉ giúp em: Theo qui định an…"
Jul 18
Ngo Ngoc Khanh is now a member of NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Jul 17
Trung Sơn updated their profile
Jul 15
Profile IconHuỳnh Phú Hòa and Dương Thế Hiền joined NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Jul 15
Dương Thế Hiền posted a status
"Mua ban cá tra filê"
Jul 15
Trần Đức Hiệp liked Phan Minh Khanh KD44's group CLB Tơ Hồng
Jul 14
Trần Đức Hiệp commented on Phan Minh Khanh KD44's group CLB Tơ Hồng
"Có nhiều khi gục đầu bên KeyBoardAnh vô tình nhấn Shift viết…"
Jul 14
Trần Đức Hiệp joined Phan Minh Khanh KD44's group
Thumbnail

CLB Tơ Hồng

Dành cho ACE nào còn độc thân muốn giao lưu để tìm một tần số cộng hưởng, tìm một sự đồng điệu…See More
Jul 14
Nguyễn Quang Tạo updated their profile
Jul 14
Trần Đức Hiệp posted a status
"Chào cả nhà, mình là mem mới, hân hạnh được làm quen"
Jul 14
Trần Đức Hiệp updated their profile
Jul 14
Profile IconTrần Đức Hiệp, Trần Nguyên Vũ and hồ nguyễn yến nhi joined NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Jul 14

© 2014   Created by Bùi Văn Hải.

Badges  |  Report an Issue  |  Terms of Service

Follow Us Follow Us Smilies
Mời xem: Tại sao PLC bị đàn áp ở TQ?
Mời xem: Điều kiện để làm Admin và duy trì NHÀ CSV