Đạo diễn: Đặng Nhật Minh
Diễn viên: Lê Vân
Sản xuất: Xí nghiệp Phim truyện Việt Nam 
Kịch bản: Đặng Nhật Minh 
Âm nhạc: Phú Quang 
Thời lượng: 95 phút 

Giải thưởng:

* Giải Bông sen vàng tại LHP Việt Nam lần thứ 7 năm 1985
* Giải đặc biệt tại LHP Quốc tế châu Á - Thái Bình Dương năm 1989
Bằng khen của Ủy ban Bảo vệ Hòa bình, tại LHP Quốc tế Maxcơva năm 1985

Trở về nhà sau chuyến đi thăm chồng ở biên giới Tây Nam, Duyên mang trong mình nỗi đau khôn tả: chồng chị đã hi sinh. Trên thuyền trở về, chị đã bị ngã xuống sông và được thầy giáo Khang cứu sống. Duyên dấu chuyện chồng hi sinh với mọi người trong gia đình đặc biệt là đối với người cha già. Để an ủi cha, Duyên nhờ Khang viết hộ những bức thư hỏi thăm gia đình như khi chồng chị còn sống. Khi người cha sắp mất, ông bảo Duyên gọi điện cho con về... Lấy nhân vật chính là người phụ nữ, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã góp phần làm tăng vẻ đẹp thầm kín cao cả trong tâm hồn người phụ nữ Việt Nam. Bao giờ cho đến tháng Mười là một bộ phim thành công và đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần làm rạng danh diện ảnh nước nhà những năm đầu thập niên 80.
  • Trong phim có hình ảnh Duyên (do Lê Vân đóng) diễn chèo trong vai một người vợ tiễn chồng đi ra trận. Cô đã không diễn hết được trích đoạn chèo này và chạy ra miếu thờ Thành hoàng làng. Ở đây, cô được Thành hoàng cho biết, nếu muốn gặp chồng, thì đợi đến rằm tháng bảy, ra chợ Âm phủ sẽ được gặp. Tại chợ Âm phủ, mặc dù gặp được chồng nhưng cô không thể cầm tay được do bây giờ, chồng cô đã là một vong hồn... Cảnh quay cuộc gặp gỡ này gây nhiều ấn tượng cho người xem phim.
  • Kịch bản của phim do Đặng Nhật Minh viết từ nỗi đau của gia đình ông, nỗi đau như của hàng vạn gia đình Việt Nam khác thời bấy giờ. Ông đã cố gắng vượt mọi khó khăn, với một cái máy quay phim cũ rích, chất lượng kém và ông đã buộc phải quay đi quay lại nhiều lần vì cái máy đã làm hỏng nhiều thước phim. Sau này, ông còn phải mượn một máy quay từ Viện sốt rét Ký sinh trùng để quay những phần còn lại. Phim đã từng bị kiểm duyệt tới 13 lần.
  • Phim có tới 3 nhà quay phim: Nguyễn Lân, Phạm Tiến Đạt và Nguyễn Đăng Bảy nên với 3 phong cách khác nhau này, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã phải cố gắng để giữ sự thống nhất trong các cảnh quay của một bộ phim.
Phần I:

 

Phần II:


Phần III:


Phần IV:


Phần V:


Phần VI:


Phần kết:

Tags: giải trí, phim, phim hay

Views: 288

Reply to This

Replies to This Discussion

‘Bao giờ cho đến tháng 10’ vào top phim châu Á hay nhất

Bộ phim sản xuất năm 1984 của đạo diễn Đặng Nhật Minh vừa được kênh CNNcủa Mỹ bầu chọn là một trong 18 bộ phim châu Á xuất sắc mọi thời đại.

Diễn viên Lê Vân (vai Duyên) trong
Diễn viên Lê Vân (vai Duyên) trong "Bao giờ cho đến tháng 10". Ảnh: VNChannel.

When the tenth month comes (Bao giờ cho đến tháng 10) vẽ nên một bức tranh sống động, kể về cảm nhận của một góa phụ trẻ tuổi về những di sản trong chiến tranh Việt Nam. Nữ diễn viên chính của phim là nghệ sĩ ưu tú Lê Vân. Bộ phim được phát hành toàn thế giới với tên The love doesn’t come back.

Trong danh sách bầu chọn, Trung Quốc có tới 5 phim là In the mood for love (Tâm trạng khi yêu) của đạo diễn Vương Gia Vệ năm 2000; To live (Phải sống) của Trương Nghệ Mưu năm 1994; Shower (Nhà tắm công cộng) của Trương Dương năm 1999; Infernal affairs (Vô gian đạo) của Lưu Vỹ Cường và Mạch Thiệu Huy năm 2002; Still life (Người tốt ở Tam Hiệp - 2006), đạo diễn Giả Chương Kha.

Hai diễn viên Lương Triều Vỹ và Trương Mạn Ngọc trong
Hai diễn viên Lương Triều Vỹ và Trương Mạn Ngọc trong "Tâm trạng khi yêu". Ảnh:Montrealfilm.

Kế tiếp Trung Quốc là Nhật Bản với 3 phim: Shall we dansu? của đạo diễn Masayuki Suo năm 1998; Ikiru của Akira Kurosawwa năm 1952; The ballad of Narayama của Keisuke Kinoshita năm 1958.

Hàn Quốc và New Zealand có 2 phim. Hai bộ phim của xứ kim chi là The host (Quái vật sông Hàn) của đạo diễn Bong Joon Ho năm 2006 và Mandalacủa Im Kwon Taek năm 1981. Whale rider (Người cưỡi cá voi) của Niki Caro năm 2002 và Utu của Geoff Murphy năm 1983 là hai phim của New Zealand lọt vào danh sách.

Cảnh trong phim
Cảnh trong phim "Quái vật sông Hàn". Ảnh: Movieshark.

Ngoài ra, một số quốc gia và vùng lãnh thổ góp mặt với một phim nhưMother India của đạo diễn Ấn Độ Mehboob Khan năm 1957; Syndromes and a century của đạo diễn Thái Lan Apichatpong Weerasethakul năm 2006;Himala của đạo diễn Philippines Ishmael Bernal năm 1982; A touch of zencủa đạo diễn Đài Loan King Hu năm 1969 và Gabbeh của đạo diễn Iran Mohsen Makhmalbaf năm 1996.

Thanh Hương (theo CNN) - Vnexpress

Gặp lại đạo diễn phim “Bao giờ cho đến tháng Mười”

Đạo diễn - NSND Đặng Nhật Minh Ảnh: Hải Yến

Vừa qua, người xem đã được xem lại bộ phim “Bao giờ cho đến tháng Mười” của đạo diễn Đặng Nhật Minh tại Trung tâm hỗ trợ phát triển tài năng điện ảnh, Hội điện ảnh Việt Nam. Trong buổi chiếu, ông đã kể lại quá trình làm phim với những kỉ niệm đẹp. Bộ phim này được ví như một nốt son trong lịch sử điện ảnh Việt Nam .

Thưa ông, bộ phim “Bao giờ cho đến tháng Mười” đã được làm cách đây 22 năm. Những kỉ niệm còn lưu giữ trong ông là gì?

Tôi rất ấn tượng với cô Bích Vượng đóng vai cô giáo trẻ. Giọt nước mắt cuối cùng trong bộ phim là giọt nước mắt của người đã hiểu tất cả những việc đã xảy ra. Để có được giọt nước mắt trong buổi sáng chào cờ hôm đó thì biết bao nhiêu người đã phải hi sinh.

Tôi có sự may mắn trong đời là khi làm phim được nhiều người giúp đỡ. Trước hết là các diễn viên, ví dụ như Lê Vân, Đặng Việt Bảo, bác Đặng Phú Cương… Tất cả họ tạo thành một dàn diễn viên rất đẹp.

Câu chuyện trong “Bao giờ cho đến tháng Mười” rất cảm động. Ông lấy cảm hứng từ đâu?

Mất mát trong chiến tranh là chuyện bình thường. Chuyện viết thư dấu thì trong kháng chiến chống Pháp có rất nhiều. Motip này Liên Xô cũng có, Trung Quốc cũng có. Ở đâu có chiến tranh thì ở đó có chuyện viết thư giả để tránh làm cho người thân của họ đau khổ. Nhưng ở mỗi nước biểu hiện khác nhau. Biểu hiện tình cảm khác nhau, cách thức khác nhau.

Ông nhận xét thế nào về diễn viên Lê Vân trong vai Duyên?

Trước đó Lê Vân có đóng phim, qua những phim cô đóng thì tôi thấy cô rất thích hợp. Khi tôi mời, tôi nhớ hồi đó cô đang học trường múa. Tôi nhớ mỗi lần đóng phim, cô phải xin nhà trường rất vất vả. Những ngày có bài phải lên lớp thì xa mấy cô cũng đội nón đi về.

Tôi nhớ một lần gặp Lê Mai, bà nói: Anh quay cảnh gì mà Lê Vân về kể với tôi là thích quá mẹ ạ. Đó chính là cảnh cô ấy mặc áo chèo chạy trên cánh đồng. Chính tôi cũng rung động trước cảnh đó. Không ngờ cô cũng rung động và kể cho bà Lê Mai.

Trong phim có điểm nhấn là một bài thơ. Thưa ông, nó có xuất xứ như thế nào?

Đây là bài thơ của tôi. Có lẽ đây là bài thơ duy nhất của tôi. Bài đó anh giáo Khang gửi cho báo tỉnh, có những câu như thế này:

“Bao giờ cho đến tháng Mười

Lúa chín trên cánh đồng năm tấn”.

Hồi đó có một phong trào tuyên truyền năng suất, anh cũng màu mè làm thơ tuyên truyền để người ta đăng. Nhưng những câu chuyện mà anh chứng kiến khiến anh nhận thấy có nhiều chuyện để nói hơn là năng suất nên mới có câu:

“Lúa chín trên cánh đồng giông bão”.

Trong bộ phim có nhiều điểm tương đồng trong phim của một đạo diễn Nhật Bản lớn là Ozu. Đặc biệt là trường đoạn chèo. Phải chăng có sự gặp gỡ ở đây?

Khi tôi làm phim này, tôi không biết Ozu là ai. Sau này tôi được xem Ozu ở Pháp. Khi xem xong thì tôi bàng hoàng. Tôi cũng có nhận ra mình ở trong đó. Đây là một sự tương đồng giữa những tâm hồn châu Á, chứ tôi không dám so sánh mình với Ozu.

Sau đó tôi sang Nhật rất nhiều lần. Trong một lần giới thiệu tôi, ông Tana Sarato có nói: “Nếu như Ozu còn sống, ông sẽ nói ông Minh là học trò của ông ấy”. Với tôi, đây là lời khen sung sướng nhất.

Trong phim của ông rất đậm nét văn hoá Việt Nam . Ông có thể nói thêm một chút về cảnh chợ âm dương?

Có một số lý do tôi viết cảnh này. Trước hết, gia đình tôi sống ở Huế, từ bé, đời sống tâm linh ăn sâu vào con người tôi. Thứ hai, tình cờ tôi có đọc một truyền thuyết trong kho tàng dân gian Việt Nam về một anh chàng chết oan gặp vợ ở chợ Mạch Ma khi chị đi kiện hộ. Tôi thấy âm dương không có cách biệt gì cả. Điểm thứ ba là tôi đi về Hà Bắc. Tôi cầm cuốn Địa dư chí Hà Bắc, trong chương Chợ có mục Chợ Âm dương. Ở Hà Bắc hiện nay có một số chợ âm dương ở làng này làng nọ. Tất cả những tích lũy đó tuôn ra thành cảnh đó.

Đoạn chợ âm dương đó được duyệt đi duyệt lại rất nhiều lần. Cái này có tuyên truyền cho dị đoan mê tín không? Nhưng may thay giáo sư Đình Quang đã lên tiếng ủng hộ tôi. Ông có nói một câu như thế này: “Tôi thấy bao giờ trong ngôi nhà người Việt Nam còn bàn thờ thì đoạn chợ âm dương này tồn tại được”.

Ông có nhận xét gì về điện ảnh hiện nay so với 22 năm trước không?

Mỗi thời có một đặc điểm của nó. 22 năm trước tôi làm “Bao giờ cho đến tháng Mười” trong không khí đó, giai đoạn đó, môi trường đó. Những gương mặt của những con người đó rất khác so với bây giờ. Đến con mắt cũng khác. Con mắt họ trong hơn nhiều. Điện ảnh hịên nay có những khó khăn khách quan mà phải thông cảm.

Xin cảm ơn ông!

Trần Hải Yến

Việt Báo (Theo_VnMedia)
Rằm tháng Bảy trong phim Bao giờ cho đến tháng Mười

Khía cạnh tâm linh trong một tác phẩm đỉnh cao của điện ảnh Việt Nam giữa thập niên 80 thế kỷ XX

Qua một bài viết đăng trên tập san Pháp Luân, chúng tôi đã có dịp giới thiệu phim truyện Mê Thảo-Thời vang bóng của đạo diễn Việt Linh như một bộ phim chứa đựng yếu tố tâm linh với tư tưởng Phật giáo ẩn hiện phía sau.

Nhưng thực ra, không phải đến Mê Thảo - Thời vang bóng (sản xuất năm 2002), điện ảnh Việt Nam (không kể bộ phận điện ảnh ở miền Nam trước năm 1975) mới có những dấu ấn tâm linh và Phật giáo trên các tác phẩm của mình.

Ngay từ giữa thập niên 80 thế kỷ trước, trong hoàn cảnh đặc biệt vào những năm đất nước chưa đổi mới, khi mà tâm linh còn là lãnh vực cấm kỵ của văn học nghệ thuật, đã có một bộ phim, mà một trong những yếu tố tạo thành sự thành công đến mức đặc biệt của nó là yếu tố tâm linh. Ngày rằm tháng bảy, ngày đại xá vong nhân của Phật giáo và cũng là ngày dành cho những người đã khuất theo truyền thống văn hoá dân tộc, đã hiện lên trong phim Bao giờ cho đến tháng mười trong hoàn cảnh đáng lưu ý đó.

Đề cập đến vấn đề tâm linh trong một bộ phim truyện vào thời gian đó là một vấn đề lớn. Đạo diễn phim, ông Đặng Nhật Minh đã viết như sau trong Hồi ký điện ảnh của mình: “Khi bộ phim hoàn thành, giám đốc Hải Ninh yêu cầu cắt bỏ trường đoạn chợ âm dương (tức trường đoạn đến rằm tháng bảy, chú thích của MT) với lý do mê tín dị đoan. Đây là trường đoạn tâm đắc nhất của tôi trong bộ phim này…”(trang 91). Trong đoạn sau của hồi ký dẫn trên, ông viết tiếp: “…đúng như cụ Nguyễn Du viết: ‘Thác là thể xác, còn là tinh anh’ [nguyên văn câu trích của tác giả Đặng Nhật Minh]. Đó là một đặc điểm tâm lý rất Việt Nam. Nhưng giám đốc Hải Ninh không quan tâm đến điều đó. Ông chỉ sợ cấp trên phê bình bộ phim mang màu sắc duy tâm huyền bí, tuyên truyền cho mê tín dị đoan.

Trước áp lực của ông, tôi đành nhân nhượng cắt bớt trường đoạn này, điều làm tôi đau xót vô cùng. Ông thường có một lập luận thoạt nghe rất có lý: bộ phim làm ra không phải của cá nhân một ai. Nó là tài sản chung, là cơm áo gạo tiền của Hãng. Nếu có gì trục trặc, trên không cho ra thì hàng trăm cán bộ công nhân viên của Hãng chết chứ không chỉ mình đạo diễn. Bởi vậy người giám đốc mới là người có trách nhiệm chính đối với bộ phim. Tôi không thể chấp nhận cái lập luận kiểu đó và cương quyết không chịu cắt bỏ thêm một cảnh nào nữa trong trường đoạn chợ âm dương.

Không còn cách nào dồn ép tôi được, giám đốc Hải Ninh bèn mời các cấp trên xuống xem trước cho an toàn. Có lẽ chưa có phim nào của Việt Nam lại phải duyệt đi duyệt lại nhiều tầng nhiều nấc như bộ phim này. Cứ mỗi nấc duyệt lại nảy sinh thêm những rắc rối mới” (trang 93).

Và đạo diễn Đặng Nhật Minh tổng kết: “Tổng cộng tất cả là 13 lần duyệt”.

Trường đoạn chợ âm dương (tức đêm rằm tháng bảy) ra sao mà phức tạp đến vậy? Đó là trường đoạn tập trung yếu tố tâm linh của phim, là điều mà chúng ta đang tìm hiểu. Mặc dù yếu tố tâm linh được thể hiện ở nhiều đoạn trong suốt cả bộ phim, nhưng tất cả những đoạn phim có yếu tố tâm linh khác đều đóng vai trò đề cao trường đoạn chợ âm dương đêm rằm tháng bảy, để từ đó cùng toát lên chất tâm linh của tác phẩm điện ảnh hết sức thành công này.

Vài nét về phim truyện Bao giờ cho đến tháng mười

Bao giờ cho đến tháng mười là một phim truyện đen trắng do Hãng Phim truyện Việt Nam sản xuất vào năm 1985. Tác giả kịch bản Đặng Nhật Minh cũng là đạo diễn phim.

Đạo diễn Đặng Nhật Minh là một trong những tên tuổi lớn của nền điện ảnh Việt Nam, ông là con trai của một nhà khoa học danh tiếng trong giới y học: Giáo sư Đặng Văn Ngữ. Trước khi làm phim Bao giờ cho đến tháng mười, ông đã có phim Thị xã trong tầm tay đoạt giải Bông Sen Vàng Liên hoan phim Việt Nam 1983, cũng do ông viết kịch bản và đạo diễn. Phim Bao giờ cho đến tháng mười do diễn viên Lê Vân đóng vai chính (Duyên, vợ của người chiến sĩ tử trận). Có thể coi đây là một trong những tác phẩm điện ảnh thành công nhất của Việt Nam: Giải Bông Sen Vàng liên hoan phim Việt Nam lần thứ VII, 1985, các giải cá nhân cho đạo diễn, diễn viên nữ, diễn viên nam và thiết kế mỹ thuật tại liên hoan phim nói trên, giải đặc biệt của ban giám khảo Liên hoan phim quốc tế Hawaii, Mỹ, 1985. Đạo diễn Đặng Nhật Minh trong quyển Hồi ký điện ảnh đã cho biết: “Không những thế nó còn nhận được mối thiện cảm rất lớn của khán giả nước ngoài. Có lẽ đây là bộ phim Việt Nam đầu tiên đến được với công chúng ngoài biên giới sau năm 1975. Tôi được Đại sứ quán Pháp cấp học bổng sang tu nghiệp tại Pháp trong một năm. Một tháng sau khi tôi tới Paris, Bộ ngoại giao Pháp đã long trọng tổ chức chiếu ra mắt bộ phim này tại rạp chiếu bóng Cosmos trên đại lộ Rue de Reinnes ở trung tâm thành phố. Điều này làm Đại sứ quán ta tại Paris rất ngạc nhiên vì trước tới nay chưa thấy họ làm như vậy bao giờ. Giấy mời tới xem phim được in rất trang trọng. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Roland Dumas và Bộ trưởng Bộ Văn hoá Pháp Jack Lang cùng đứng tên trên giấy mời. Khách mời là ngoại giao đoàn ở Paris, giới văn nghệ sĩ, điện ảnh Pháp, đại diện Việt kiều. Có thể nói buổi chiếu đã thành công mỹ mãn. Nhà văn kiêm nữ ký giả Pháp Madeleine Riffaut sau khi xem xong nước mắt giàn giụa ôm hôn tôi hồi lâu”.

Cốt truyện phim Bao giờ cho đến tháng mười được chính đạo diễn Đặng Nhật Minh tóm tắt như sau trong Hồi ký điện ảnh“Mở đầu phim là cảnh chị Duyên về làng sau khi vào Nam thăm chồng về. Nhưng chồng chị đã không còn nữa. Anh đã hi sinh trong một trận chiến đấu ở biên giới Tây Nam. Vì nỗi đau quá bất ngờ, vì đường xa mệt nhọc nên khi qua đò chị đã bị ngất đi, rơi xuống sông. May có Khang, một giáo viên đi cùng đò đã nhảy xuống sông vớt được chị. Khang cũng vớt lên được tờ giấy báo tử của chồng Duyên nên anh trở thành người đầu tiên biết tin này. Nhưng Duyên lại muốn giấu kín tin dữ đó, chị không muốn bố chồng đang già yếu phải đau buồn. Chị đã nhờ Khang viết những lá thư giả để làm an lòng những người trong gia đình chồng, một tình tiết có thật trong đời sống mà tôi được nghe. Mối quan hệ thầm kín của hai người bắt đầu từ đó. Cảm động trước sự hi sinh chịu đựng và nỗi mất mát của Duyên, Khang đã đem lòng yêu mến cô, muốn được thay thế người đã mất, lo toan cho hạnh phúc cho cô và đứa con lên bảy tuổi. Anh viết thư bộc lộ những tình cảm đó với Duyên. Không may bức thư lọt vào tay bà chị dâu và câu chuyện vỡ lở khắp làng. Khang mang tiếng là người yêu phụ nữ có chồng là bộ đội đang chiến đấu ở xa. Anh bị điều đi dạy ở nơi khác. Còn Duyên vẫn âm thầm chịu đựng nỗi đau cho đến ngày ông bố chồng sắp hấp hối bắt cô phải đánh điện xin cho chồng về. Thấy Duyên chần chừ, đứa con trai lên bảy đã tự ý lên bưu điện huyện để đánh điện cho bố. Giữa đường nó xin đi nhờ một xe commanca chở bộ đội. Những người lính trên xe biết rõ sự tình bèn đánh xe quay về làng. Khi họ về đến làng, đứng bên giường của bố chồng Duyên thì cũng vừa lúc cụ trút hơi thở cuối cùng sau khi tin rằng con trai mình đã về. Mọi người trong làng mới biết rằng chồng Duyên đã hi sinh, họ không còn hiểu lầm Khang nữa, nhưng anh đã đi rồi. Bây giờ Duyên lại mong tin anh, mong anh trở lại… Ngày khai giảng, cô đưa con đến trường và hỏi thăm tin anh”.

Hiện nay, phim vẫn còn được phát hành chính thức dưới dạng đĩa DVD.

Trường đoạn đêm rằm tháng bảy họp chợ âm dương

Trường đoạn đêm rằm tháng bảy đã được chuẩn bị từ đoạn mở đầu phim. Đến ngôi miếu cổ Duyên nói với người yêu khi đó chưa cưới và còn ở làng, chưa đi bộ đội:

“Bà em kể trước kia cứ ngày rằm tháng bảy ở cạnh miếu này người ta họp chợ. Những người sống và những người chết được gặp nhau”[1].

Đến sau khi chồng tử trận, lạc đến ngôi miếu trong đêm rằm tháng bảy, Duyên gặp lại chồng giữa “một khu chợ đông đúc hiện ra trong đêm”, sau hình ảnh “những ngọn đèn trôi trên sông dạt vào bãi đá dưới cây muỗm già”[2].

Tiến sĩ điện ảnh học Ngô Phương Lan trong công trình Tính hiện đại và tính dân tộc trong điện ảnh Việt Nam đã bình luận như sau về trường đoạn này: “Trong phim, chị Duyên còn gặp lại người chồng của mình cùng với bao người đã khuất tại chợ Âm phủ trong đêm rằm tháng bảy. Hầu hết họ là những người lính trẻ như chồng Duyên và cũng ra đi vĩnh viễn vì Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trong đó có cả vị Thành hoàng làng. Trên nền đêm tối, ta như thấy một tấm thảm phủ đầy những đốm lửa nến cháy chập chờn đến vô tận trong khuôn hình sâu hun hút đầy ấn tượng. Duyên trong chiếc áo sơ mi trắng giản dị cùng đi với người chồng trong bộ quân phục mới, họ muốn nắm tay nhau nhưng không thể chạm vào nhau vì một người còn trong cõi thực, người kia đã ở cõi mộng. Người xem như được dắt vào thế giới tâm linh của người Việt Nam, nơi nỗi đau mất mát là nỗi đau chung, tình yêu lứa đôi và tình cảm gia đình hòa vào tình yêu Đất nước”[3].

Tuy nhiên, tiến sĩ Ngô Phương Lan đã chưa chú ý đến một phát ngôn của nhân vật anh bộ đội, chồng Duyên, một phát ngôn của người đã khuất và mang dáng dấp triết lý Bát-nhã của Phật giáo: “Cái còn lại mãi mãi là cái không nhìn thấy được”[4]. Lời thoại này là điểm nhấn mạnh của trường đoạn đêm rằm tháng bảy.

Ngay từ năm 1985, khi xem phim Bao giờ cho đến tháng mười trình chiếu lần đầu tiên tại TP.HCM, chúng tôi đã rợn người với câu nói âm vang ấy của nhân vật anh bộ đội chồng Duyên. Trong khung cảnh nửa thực nửa hư khói sương ảo ảnh của đêm rằm tháng bảy, lời thoại “Cái còn lại mãi mãi là cái không nhìn thấy được” vang lên rõ từng chữ một như câu kinh trầm trầm tan vào trong khoảnh khắc sống chết, còn mất, sắc không linh thiêng…

Thời gian thiêng liêng của tâm linh đó không chấm dứt một cách đột ngột. Duyên về nhà, thấy bố chồng ngồi im lặng trước bàn thờ gia đình trong không gian tranh tối tranh sáng huyền hoặc, ông cụ nói với con dâu “Hôm nay là ngày rằm tháng bảy. Bố quên dặn con thắp hương”.

Tiến sĩ Ngô Phương Lan coi cảnh Duyên tiến đến bàn thờ thắp hương theo lời ông cụ “là một trong những cảnh quay đêm thành công của điện ảnh Việt Nam, không chỉ ở tạo hình mà còn hiệu quả tạo biểu tượng của nó” (chúng ta chú ý đến từ “hiệu quả tạo biểu tượng”)[5]. Trong khói hương mờ mờ đêm khuya rằm tháng bảy, trên khuôn mặt thành tín của Duyên dường như vẫn còn vang vọng câu nói  thấm nhuần triết lý sắc không: “Cái còn lại mãi mãi là cái không nhìn thấy được”[6].

Nếu không còn trường đoạn đêm rằm tháng bảy, Bao giờ cho đến tháng mười sẽ không thể để lại ấn tượng sâu đậm và những cảm xúc mãnh liệt như đã thấy. Những vấn đề lớn mang ý nghĩa triết học mà bộ phim đề cập như còn/ mất, hạnh phúc/ khổ đau, gặp gỡ/ chia lìa, hình sắc/ hư vô… cũng sẽ không còn gì. Khó có thể hình dung phim Bao giờ cho đến tháng mười như hôm nay mà không có trường đoạn chợ âm dương đêm rằm tháng bảy.

Truyền thống từ bi đối với vong nhân trong lễ Vu Lan của Phật giáo đã đi vào lòng dân tộc Việt Nam một cách tuyệt đẹp bằng giai thoại chợ âm dương đêm rằm tháng bảy trong dân gian, và từ đó, được cách điệu thành trường đoạn chợ âm dương cảm động trong phim Bao giờ cho đến tháng mười. Ở đây, không còn ranh giới giữa Phật giáo, tâm thức dân tộc và những cảm xúc thiêng liêng muôn thuở của con người.



[1] Đặng Nhật Minh: Bao giờ cho đến tháng mười – Tuyển tập kịch bản điện ảnh. Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế, 2002 – trang 70.

[2] Đặng Nhật Minh: Sách dẫn trên, trang 101

[3] Ngô Phương Lan: Tính hiện đại và tính dân tộc trong  điện ảnh Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin & Viện Văn hoá Thông tin Hà Nội, 2005 trang 138.

[4] Đặng Nhật Minh: Sách đã dẫn, trang 101.

[5] Ngô Phương Lan: Sách đã dẫn, trang 138 –139.

[6] Giữa kịch bản văn học và phim Bao giờ cho đến tháng mười có một điểm khác. Trong kịch bản văn học, ông cụ bố chồng của Duyên nói: “Chờ hết tuần hương này đã…” (ông đã thắp hương). Trong phim, đạo diễn để Duyên thắp hương và im lặng hồi lâu trước bàn thờ sau khi ông cụ nhắc “Hôm nay là ngày rằm tháng bảy”. Rõ ràng đạo diễn đã nhấn mạnh một cách tài tình ý nghĩa của việc thắp hương đêm rằm tháng bảy như là một “biểu tượng” (chữ dùng của TS Ngô Phương Lan) bằng việc sửa đổi lại kịch bản mà chính ông là tác giả.

 

(ST)

Em chưa sửa lại trong bài:

Diễn viên chính: là Lê Vân nhé!

Hihi, cảm ơn Chị!

Em copy về mà không để ý

RSS

Hiểu về trái timNếu bạn chưa biết cách sử dụng chức năng nào trên NHÀ, bấm vào đây...

Hỗ trợ trực tuyến (Mr Hải CB34) Bạn hãy login Yahoo! Messenger trước khi bấm vào đây để trao đổi
Visitors:Cựu SVTS

Latest Activity

Bùi Văn Hải posted discussions
17 hours ago
Bùi Văn Hải posted a blog post

Quý trọng đồng tiền?

Giờ tra trên GG với từ khoá "quý trọng đồng tiền" thì sẽ thấy rất nhiều bài dạy con, dạy làm người…See More
18 hours ago
Bùi Văn Hải posted videos
18 hours ago
Trần Xuân Thuận joined Phan Minh Khanh KD44's group
Thumbnail

CLB Tơ Hồng

Dành cho ACE nào còn độc thân muốn giao lưu để tìm một tần số cộng hưởng, tìm một sự đồng điệu…See More
22 hours ago
VŨ DUY NHƯ posted a discussion

ĐÁNH GIÁ KỸ THUẬT VỀ CÁC SẢN PHẨM CHỐNG BIẾN ĐEN KHÔNG CHỨA SULPHITE DÙNG CHO TÔM

GIỚI THIỆUTôm không được xử lý sẽ biến đổi làm giảm giá trị cảm quan của sản phẩm. Những đốm đen…See More
23 hours ago
Phan Minh Khanh KD44 replied to Lê Hồng Mơ's discussion THƯỞNG THỨC - ĐAM MÊ
"Con chào cô! Chúc cô được nhiều sức khoẻ ạ! "
yesterday
Phan Minh Khanh KD44 liked Lê Hồng Mơ's discussion THƯỞNG THỨC - ĐAM MÊ
yesterday
Bùi Văn Hải liked Lê Hồng Mơ's discussion THƯỞNG THỨC - ĐAM MÊ
yesterday
NGUYỄN THỊ CẨM LY replied to Đặng Thị Thủy's discussion Cần gấp dịch vụ bảo trì thiết bị phòng thí nghiệm - Gấp, Gấp
"Bên em làm bảo trì máy thường thuộc hãng thiết bị bên em…"
Monday
Lê Hồng Mơ replied to Lê Hồng Mơ's discussion THƯỞNG THỨC - ĐAM MÊ
"lâu ngày bận quá ko vô thăm nhà được hôm nay tranh thủ…"
Sunday
Lê Hồng Mơ posted a discussion
Sunday
Lê Hồng Mơ liked Lê Hồng Mơ's blog post Biển và em
Sunday
thanhcong is now a member of NHÀ CỰU SV TSNT ♥ CSV VIỆT
Saturday
Trần Vũ Lâm replied to Đặng Thị Thủy's discussion Cần gấp dịch vụ bảo trì thiết bị phòng thí nghiệm - Gấp, Gấp
"Thủy mô tả trạng thái tủ Ủ và tủ Cấy như thế nào đi ... sau đó…"
Saturday
Đặng Thị Thủy replied to Đặng Thị Thủy's discussion Cần gấp dịch vụ bảo trì thiết bị phòng thí nghiệm - Gấp, Gấp
"Em làm bên công ty thủy sản Tung Kong, ở Nhơn Trạch Đồng Nai. 1. Tủ ủ vi sinh:…"
Saturday
NGUYỄN THỊ CẨM LY replied to Đặng Thị Thủy's discussion Cần gấp dịch vụ bảo trì thiết bị phòng thí nghiệm - Gấp, Gấp
"Chào chị, Chị làm bên công ty nào vậy Chị?   CHị có…"
Saturday
Hải Đường posted a status
"Tình hình là 18/9 này em du hí ở Bến Tre! Muốn Hẹn Hò ai đó!"
Friday
Phạm Thị Thu commented on CAO VĂN HOÀ's group KINH DOANH 42
"Buồn quá, về lớp mình mà không thấy ai comment cả. Chúc cả…"
Friday
Đặng Thị Thủy posted a discussion

Cần gấp dịch vụ bảo trì thiết bị phòng thí nghiệm - Gấp, Gấp

Hiện tại phòng thí nghiệm của công ty em có 2 thiết bị đang gặp sự cố.1. Tủ ủ vi sinh2. Tủ cấy vi…See More
Friday
Bùi Văn Hải replied to hồ thị Yến's discussion Bảo dưỡng nhà
Friday

© 2014   Created by Bùi Văn Hải.

Badges  |  Report an Issue  |  Terms of Service

Follow Us Follow Us Smilies
Mời xem: Tại sao PLC bị đàn áp ở TQ?
Mời xem: Điều kiện để làm Admin và duy trì NHÀ CSV